Phóng to |
Điều kiêng kỵ là các loại quả có tên gọi đồng âm với nghĩa xấu. Theo đó, có nơi người ta kỵ cam (cam chịu), chuối (chúi: chúi đầu, chúi mũi, tức vất vả…). Ngược lại, cũng theo tên gọi các loại trái ở Nam Bộ người ta thích thơm (thơm tho, thơm danh), sung (sung túc); đủ một câu thể hiện sự mong ước, người ta bày mâm ngũ quả gồm mãng cầu, dừa, thu đủ, xoài (cầu vừa đủ xài)…
Nói chung, mâm ngũ quả kiểu này là một biến thái có thể coi là mới mẻ. Truy nguyên nguồn cội của mâm ngũ quả buộc chúng ta phải xem xét đến hai thành tố của tên gọi: ngũ (số 5) và quả (trái cây), rồi sau đó mới nói đến cái từ ghép ngũ quả.
1. Ngũ, con số 5 là con số chỉ trung tâm. Người ta tìm thấy nó ở ngăn giữa của Lạc thư. Tự dạng chữ "ngũ" nguyên thủy có hình chữ thập của 4 nguyên tố cộng với điểm trung tâm. Sau này, hai vạch song song được thêm vào đấy, tức Trời và Đất mà giữa chúng âm và dương tạo nên năm nguyên tố tương tác sinh khắc của vạn vật, gọi là ngũ hành.
Theo quan niệm cổ đại phổ biến trong khu vực chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc, thường cho rằng các quy luật phổ biến đều gộp vào con số 5. Trong đại từ điển, ngũ có đến 12 nghĩa và 1.148 từ kép ghép với nó. Phổ biến, chúng ta có ngũ phương (đông Tây, Nam, Bắc và Trung ương), ngũ sắc, ngũ vị, ngũ âm, ngũ tạng, ngũ luân, ngũ cốc… Như vậy số 5 là biểu hiện chung của sự sống; ở đây "ngũ quả", tự nó biểu trưng một tập thành đầy đủ của loại lễ vật dâng cúng là quả.
2. Đối với cư dân nông nghiệp, ngũ cốc (nếp hương, lương/ gạo/ thúc/ đậu, mạch/ lúa mì, tắc, kê) là lương thực chủ đạo và ngũ quả (trái cây nói chung) là thứ yếu. Do đó, theo Chiêm thư, người ta thường quan sát sự tốt xấu của "ngũ quả" sau đây để dự đoán việc được mùa của các loại ngũ cốc:
Mận chủ vào đậu; Hạnh chủ vào lúa mì; Đào chủ vào tiểu mạch; Lật ( hạt dẻ) chủ vào nếp hương; Tảo (táo) chủ vào lúa.
Sự xác tín đã trở thành tập tục trong dân gian, "ngũ quả" nêu trên là "chuẩn" của năm thứ quả dùng làm lễ vật. Dâng lễ vật nào đều có thể là cách biểu thị sự cầu mong của người dâng lễ, đối với người nông dân thời cổ thì điều cầu mong lớn nhất là được mùa ngũ cốc.
3. Trái cây là thứ lễ vật xuất hiện khá sớm trong việc cúng kiến bên cạnh các loài thú hiến tế (heo, bò, dê (tam sinh); hoặc bình dân hơn: gà, vịt, tôm, cua, cá… Theo khoa nghi nhà Phật, trong danh mục lễ vật dâng cúng: hương (nhang), đăng (đèn), hoa, trà, quả, thực… Tuy nhiên, ở đây nghi lễ nhà Phật cũng không quy định rõ là quả gì.
Quả, trái cây nói chung là biểu tượng của sự sung túc, dồi dào. Vì quả thường chứa nhiều hạt nên được đồng nhất với quả trứng vũ trụ, biểu tượng cho mọi nguồn gốc, mọi sự khởi nguyên. Biểu tượng quả (với hạt bên trong của nó) biểu thị cho sự phồn thịnh, sinh sôi và khao khát sự bất tử - hiểu theo sự nối truyền dòng giống miên viễn.
Theo chiều hướng này, quả bao hàm cả ý nghĩa biểu trưng vượt lên trên nhịp điệu sinh tồn của vạn vật: sự xen kẽ luân hồi của sự sống và cái chết, giữa cuộc sống dưới đất (của hạt giống) và cuộc sống dương thế…
Trong văn hóa, cụ thể là trong văn học của nghệ thuật tạo hình, quả vừa là biểu trưng chung vừa có biểu trưng riêng - hoặc - theo sự đồng âm của nó hoặc nó được xác định bởi các tình tiết văn học truyền kỳ, thần tiên…
Lựu được biểu trưng cho sinh con: lựu khai bách tử. Dưa hấu nhiều hạt nên cũng có được ý nghĩa tương tự như lựu. Mơ, đào, phật thủ… đều có ý nghĩa biểu trưng riêng, song đều hội ý chúc tụng cát tường như ý.
Tóm lại, mâm ngũ quả trên bàn thờ ngày Tết của chúng ta là một "sản phẩm văn hóa" đã xác lập trong quá trình lịch sử lâu dài. Ngũ quả khuôn đúc theo quan niệm về " bộ ngũ hoàn hảo" và cái nhìn liên tưởng mang tính chất trắc nghiệm từ thực tế: sinh trụ dị diệt của thực vật.

Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận