
Ông Trương Vĩnh Ký chụp tư gia tại Chợ Quán - Sài Gòn và cỗ xe song mã năm 1886 - Ảnh: Nét Xưa phục chế
Bởi ngựa nuôi đã không chỉ là phương tiện giúp con người vận chuyển và di chuyển, mà còn là phương tiện chiến tranh gắn với những chiến công, chiến tích, có khi là xoay chuyển lịch sử, lưu danh thiên cổ...
Nước kiệu phi vào huyền thoại
Từ thời nhà Chu, thời Xuân Thu, Chiến Quốc, các chư hầu hùng mạnh như Tấn, Sở, Tần, Tề, Triệu... đều có những bãi chăn nuôi ngựa gọi là mục trường, rộng mênh mông, ở miền biên tái và đặt chức quan trông coi. Các dòng ngựa nổi tiếng thời này có Long Xí, Vân Tùy, Địa Lý, Huyền Chu...
Tên nhiều chú ngựa vẫn còn được nhắc đến tận hôm nay nhờ gắn liền với chủ là chiến tướng hay nhà lãnh đạo quân sự lừng lẫy.
Phương Tây thì vó ngựa Bucephalus của Alexander Đại đế dẫm từ Hy Lạp sang Ấn Độ, ngựa Marengo của Napoleon Bonaparte tung vó khắp trời Âu; Phương Đông có ngựa Xích Thố chở chiến thần Lã Bố đại chiến chư hầu nơi ải Hổ Lao rồi đưa Quan Vũ chinh phạt thiên hạ làm chúa Kinh Châu...
Nhà kể chuyện vĩ đại Kim Dung nhắc tới Hãn Huyết bảo câu, loài ngựa có mồ hôi hồng như máu, trong bộ kiếm hiệp Anh Hùng Xạ Điêu. Chỉ duy nhất Quách Tỉnh, học trò của Mã Vương Thần Hàn Bửu Câu trong Giang Nam Thất Quái, chinh phục được một con Hãn huyết bảo câu và nhờ kỹ năng xuất thần của ngựa, chàng đã mấy lần thoát chết để trở thành đương thời đệ nhất anh hùng đại hiệp.
Anh Hùng Xạ Điêu kể rằng Hãn Huyết bảo câu xuất xứ ở lãnh thổ nước Đại Uyển thuộc Tây Vực, là giống ngựa lấy giống từ ngựa hoang chạy nhanh như gió lai với ngựa nhà mà có. Vua Hán Vũ đế ham ngựa, sai quân vượt sa mạc tấn công Đại Uyển. Ngựa được chiếm về nhưng vạn cốt khô trên sa mạc cho lòng tham ngựa của hoàng đế!
Trước khi đi vào tác phẩm của Kim Dung, sự tích cùng đặc điểm và câu chuyện của Hãn Huyết bảo câu được ghi chép trong Sử ký của Tư Mã Thiên thời Hán, người sống trước Kim Dung khoảng 2.000 năm. Chuyện này phản ánh nguồn gốc của sự thuần hóa ngựa.

Ngựa trong tranh Từ Bi Hồng - danh họa Trung Quốc dành cả đời vẽ ngựa
Lược sử thuần hóa ngựa
Khoảng 55 triệu năm trước, ngựa xuất phát từ Bắc Mỹ, thân hình nhỏ như con chó, sống ven rừng ăn lá cây. Trong vài chục triệu năm tiếp theo, nhiệt độ Trái đất nguội dần, đồng cỏ mở rộng, ngựa thích nghi dần với việc ăn cỏ và thân thể trở nên cao lớn hơn.
Khoảng 4 triệu năm trước, khí hậu lạnh hơn để tiến tới kỷ băng hà, mực nước biển thấp hơn hiện nay từ vài chục tới hơn trăm mét, eo biển Bering bây giờ xưa là đất cạn nối Bắc Mỹ với Siberi.
Lúc này ngựa đã có thân thể gần giống ngựa hiện nay, từ Bắc Mỹ di chuyển qua Siberi và sinh sôi nhiều trên thảo nguyên mênh mông của vùng Trung Á hiện nay, từ Ukraine tới Mông Cổ.
Khoảng 300.000 năm trước, loài người hiện nay (Homo sapiens) xuất hiện tại châu Phi. Khoảng 100.000 năm trước, cuộc di cư khỏi châu Phi bắt đầu, và 15.000 -12.000 năm trước loài người đã có mặt khắp năm châu.
Ở lục địa Á - Âu, cuộc sống định cư bắt đầu dưới dạng bộ lạc nhỏ tại hai vùng đất là Lưỡng Hà, giữa hai sông Euphrate, Tiger, và duyên hải Trung Hoa, giữa hai sông Hoàng Hà, Dương Tử. Lúc này loài người bắt đầu thuần hóa động vật.
Chó được thuần hóa đầu tiên, khoảng 25 - 15.000 năm trước. Mục tiêu chính của đồng hóa chó là giúp con người săn bắt, tương ứng với giai đoạn kinh tế săn bắt, hái lượm.
Lúc này kỷ băng hà bắt đầu kết thúc, khí hậu ấm hơn, loài người bắt đầu sống quần tụ thành nhóm nhỏ và định cư với nền kinh tế nông nghiệp thô sơ.
Tiếp theo việc thuần hóa chó, trong thời gian kéo dài khoảng 12.000 - 7.000 năm trước, loài người lần lượt thuần hóa các động vật làm thức ăn như dê, cừu, heo, trâu bò, gà, vịt. Xã hội loài người với cuộc sống định cư dần trở nên đông đảo hơn.

Hình những con thú, trong đó có ngựa, được vẽ trên vách hang động Chauvet ở miền nam nước Pháp cách nay khoảng 30.000 năm. Lúc này ngựa chưa được thuần hóa nhưng loài người đã chú ý vẽ lại chúng.
Khoảng 6.000 - 5.000 năm trước, các bộ lạc lớn được hình thành làm tiền đề cho quốc gia sơ khai. Thời gian này, đầu tiên là ngựa rồi lừa, lạc đà được thuần hóa với mục đích chính là phục vụ việc chuyên chở, di chuyển. Ngựa di chuyển khéo léo, mạnh mẽ với tốc độ nhanh, được sử dụng làm phương tiện chiến tranh.
Trong cuộc chiến của nhà Chu tấn công nhà Thương, cách nay khoảng 5.000 năm, ngựa đã được dùng kéo xe chiến.
Đời Chiến Quốc cách nay 2.500 năm đã có ngựa chiến do kỵ binh cưỡi, từ đó cho tới khi những đoàn kỵ mã của Thành Cát Tư Hãn làm khiếp đảm thế giới cách nay 700 năm, chúng ta đã chứng kiến ngựa là phương tiện chiến tranh quan trọng đến thế nào trong hàng ngàn năm lịch sử con người!

Ngựa trong tranh Từ Bi Hồng
Người ta tin rằng ngựa được thuần hóa đầu tiên tại thảo nguyên Caucase, giữa hai con sông Volga và Don.
Vùng đất rộng lớn này nằm trên lãnh thổ phía Đông Ukraine, phía Nam Nga và Kazakhstan hiện nay. Sau đó ngựa thuần hóa nhanh chóng lan ra Trung Á, châu Âu, Mông Cổ - Đông Á, Tiểu Á, Iran.
Trong số 23 loài động vật được loài người thuần hóa, ngựa đứng thứ 9 theo thứ tự thời gian, nhưng chắc chắn đứng thứ 1 trong những sự kiện quan trọng của lịch sử loài người: chiến tranh và chiến thắng.
Nhánh ngựa lan về Mông Cổ, Đông Á chính là tổ tiên của Hãn Huyết bảo câu, loài ngựa đã biến thành nguyên nhân cuộc chiến của Hán Vũ đế.
Lúc này trên lãnh thổ Trung Quốc hiện nay đã hình thành những quốc gia hùng mạnh, trải dài từ thời Xuân Thu, Chiến Quốc, nhà Tần rồi sang nhà Hán. Các cuộc chiến chiếm đất, công thành, chinh đoạt thiên hạ rất cần ngựa chiến.
Từ khoảng 300 năm trước, thuốc súng và súng khiến tầm quan trọng của kỵ binh giảm nhanh, công dụng chính của ngựa trở thành ngựa đua, chủ yếu phục vụ ngành thể thao và những thú vui của con người.
Ngàn năm đồng đội
Các nghiên cứu về di truyền cho thấy những dòng ngựa thuần hóa khác nhau thì gần gũi nhau về nguồn gốc cha và khác nhau về nguồn gốc mẹ.
Người ta suy luận rằng có một giống ngựa đực dũng mãnh được đưa đi giao phối với các giống ngựa cái tại các địa phương khác nhau.
Điều này được phản ánh trong truyền thuyết về nguồn gốc Hãn Huyết bảo câu, rằng nơi Đại Uyển người xưa lấy "giống từ ngựa hoang chạy nhanh như gió lai với ngựa nhà mà có"...
Việc thuần hóa ngựa yêu cầu những đặc tính mới của ngựa khác với đặc tính trong thiên nhiên: ngựa phải ôn hòa, cộng tác với người, ngựa phải chạy nhanh và khéo léo, dễ điều khiển, ngựa cũng phải có bộ lông với màu sắc hợp gu thẩm mỹ người.
Quá trình chọn lọc nhân tạo ấy khiến ngựa thuần hóa khác với ngựa trong môi trường tự nhiên, hoang dã. Không chỉ hình dáng bên ngoài của ngựa thay đổi mà cả vật chất di truyền bên trong cũng thay đổi. Các biến thể của bộ gene cũng được chọn lọc nhân tạo để thích nghi với điều kiện thuần hóa.
So với ngựa hoang, ngựa thuần hóa có những gene mang biến thể khiến tính tình ít nổi loạn hơn, trầm tĩnh hơn, dễ nghe lời hơn. Có những biến thể khiến tim và hệ cơ phát triển hơn, mạnh mẽ và dẻo dai hơn, thích ứng với chạy nhanh cùng thay đổi tốc độ đột ngột.
Có những biến thể khiến bộ máy tiêu hóa thích nghi hơn với thức ăn nhiều tinh bột… Các gene và biến thể này được chọn lọc bởi nhu cầu của chủ nuôi chứ không phải yêu cầu sống thích nghi mạnh mẽ với điều kiện hoang dã.
Cứ vậy mà đã ngàn năm, những chú ngựa trở thành bạn bè, đồng đội với con người, thành niềm kiêu hãnh của những kỵ binh trên lưng ngựa.

Kỵ binh cảnh sát cơ động Việt Nam diễu hành trong lễ 30-4-2025 - Ảnh: Quang Định
Môi trường và gene
Các nghiên cứu về sự thuần hóa ngựa cho thấy môi trường sống bên ngoài ảnh hưởng sâu sắc tới tính tình cá thể, tới tận bộ gene (genome) bên trong, và điều này sẽ đúng với mọi loài, kể cả loài người.
Hôm nay, bên câu chuyện vui ngày xuân về loài ngựa - con giáp vật chủ phong thủy của năm, chúng ta có thể đặt thêm câu hỏi cho mình: Môi trường xã hội với triết lý sống, với giá trị cốt lõi lâu dài ảnh hưởng thế nào trên những gene/biến thể quyết định tính cách con người như khoan hòa hay hung dữ, quật cường hay ngoan ngoãn, nhân hậu hay độc ác, thích học hỏi khám phá hay thụ động từ chương?...
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận