15/07/2010 08:16 GMT+7

Lại điều trần về chất độc da cam

NGUYỄN VĂN TUẤN (*)
NGUYỄN VĂN TUẤN (*)

TT - Ngày 15-7, Hạ viện Mỹ sẽ có một buổi điều trần về vấn đề chất độc da cam tại Việt Nam. Cuộc điều trần diễn ra trong thời điểm có ý nghĩa quan trọng: ngày Việt Nam và Mỹ kỷ niệm 15 năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao. Có lẽ đây cũng là lúc để Chính phủ Mỹ tiến thêm một bước trong nỗ lực hàn gắn vết thương chiến tranh.

VF91KHhG.jpgPhóng to
Bức ảnh này mang tên Thông điệp nụ cười khắc họa sự lạc quan của một người mẹ đã hi sinh cả cuộc đời mình cho đứa con bị nhiễm chất độc da cam - Ảnh: Đoàn Đức Minh

Cách đây đúng ba năm, cũng vào tháng 7, Tòa án New York đã nghe vụ kiện của Hội Nạn nhân chất độc da cam VN, trong đó kiện 32 công ty hóa học từng sản xuất và cung cấp hóa chất, kể cả chất độc da cam, sử dụng trong cuộc chiến kéo dài suốt 10 năm (từ 1961-1971). Đến ngày 22-2-2008, Tòa phúc thẩm New York bác đơn kiện của Hội Nạn nhân chất độc da cam VN. Phán quyết của Tòa phúc thẩm New York gây ngạc nhiên cho thế giới vì những lý lẽ thiếu tính thuyết phục.

Nhưng “câu chuyện da cam” không thể nào chấm dứt trong khi di hại của độc chất vẫn tồn tại ở VN. Ngày 15-7 này, Hạ viện Mỹ lại tổ chức điều trần về vấn đề chất độc da cam ở VN (sau hai lần điều trần năm 2008 và 2009), có lẽ cũng là dịp để đi tìm một định hướng giải quyết vấn đề một cách dứt điểm. Cần nói thêm rằng vấn đề ảnh hưởng của chất độc da cam đối với cựu quân nhân Mỹ đã được Chính phủ Mỹ giải quyết với chính sách trợ cấp cho những người từng bị phơi nhiễm độc chất trong thời chiến. Do đó, giải quyết vấn đề da cam ở VN có lẽ là việc làm sau cùng kết thúc một chương sử buồn trong cuộc chiến thảm khốc.

"Lúc chúng tôi (các nhà khoa học quân đội) khởi xướng chương trình khai quang vào thập niên 1960, chúng tôi biết tiềm năng độc hại của chất dioxin chứa trong thuốc diệt cỏ. Chúng tôi còn biết rằng công thức mà giới quân sự dùng có nồng độ cao hơn nồng độ mà giới dân sự dùng, vì chi phí rẻ và thời gian sản xuất ngắn. Tuy nhiên vì hóa chất sẽ được dùng trên kẻ thù, không ai trong chúng tôi quan tâm thái quá"

Tiến sĩ James R. Clary - thuộc Cơ quan Nghiên cứu vũ khí hóa học (Chemical Weapons Branch) trực thuộc Air Force Armament Development Laboratory (Florida)

Làm gì để xoa dịu nỗi đau chiến tranh?

Tuy cuộc chiến đã chấm dứt 35 năm, nhưng di hại của độc chất vẫn còn tồn tại, và câu hỏi đặt ra là: làm gì để xoa dịu nỗi đau chiến tranh? Các văn kiện quốc tế về quyền con người như Quy ước về bảo vệ quyền con người và các quyền tự do cơ bản năm 1953 (European Convention for the Protection of Human Rights and Fundamental Freedoms) và Quy ước của Mỹ về quyền con người năm 1978 (American Convention on Human Rights) đều có liệt kê điều khoản về bồi thường chiến tranh.

Quyền được bồi thường là một quyền không thể tách rời khỏi các quy ước quốc tế về quyền con người và quy ước chiến tranh. Quyền được bồi thường sau chiến tranh được ghi nhận và chấp nhận bởi các quốc gia trên thế giới. Gần đây, Đạo luật Rome về Tòa án tội phạm quốc tế cũng thiết lập một quỹ tài trợ (trust fund) cho nạn nhân chiến tranh và gia đình của họ.

Báo chí phương Tây cho rằng vấn đề chất độc da cam là một vấn đề gai góc trong mối quan hệ đa chiều giữa VN và Mỹ. Thế nhưng vấn đề này lại có thể giải quyết một cách thỏa đáng nếu các công ty hóa học và Chính phủ Mỹ có thiện chí.

Thật ra Quốc hội Mỹ đã có thiện chí giải quyết vấn đề qua vài tuyên bố gần đây của các quan chức Mỹ và qua những cuộc điều trần trước hạ viện. Cách đây khoảng bốn năm, người viết bài này đề nghị lập một quỹ tài trợ quốc tế cho nạn nhân chất độc da cam tại VN. Quỹ này sẽ do các nước trên thế giới từng tham chiến ở VN, có lẽ phần lớn là Mỹ, đóng góp. Một hội đồng quốc tế sẽ đứng ra quản lý và điều hành quỹ này dựa vào những tiêu chí nghiêm ngặt mà mọi bên đều nhất trí. Ba việc làm cụ thể mà quỹ này có thể thực hiện:

Thứ nhất, tổ chức điều trị những bệnh được công nhận là do phơi nhiễm độc chất gây ra (như ung thư, dị tật bẩm sinh, tiểu đường, bệnh da...), tạo công ăn việc làm cho những cư dân trong các vùng bị nhiễm, lập bệnh xá và trường học để nâng cao đời sống vật chất và trình độ văn hóa cho nạn nhân và cư dân tại những nơi bị nhiễm độc chất.

Thứ hai, quỹ nên dùng một số ngân khoản để làm sạch môi trường tại những nơi bị nhiễm nặng như Biên Hòa, A Lưới, A Sao... Hiện nay, kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy tại các địa điểm này, nồng độ dioxin là rất cao, có khi cao hơn 130 lần nồng độ an toàn cho phép, vì chất độc đã lắng đọng xuống lòng đất, nhất là các nơi bùn lầy. Do đó, nhu cầu làm sạch môi trường tại những nơi này phải được xem là một ưu tiên hàng đầu.

Thứ ba, quỹ nên hỗ trợ và giúp đỡ thành lập một viện nghiên cứu quốc tế về chất độc da cam và dioxin. Viện này sẽ quy tụ nhiều chuyên gia trên thế giới về hóa học, y học, môi trường học và dịch tễ học để tiến hành những nghiên cứu cơ bản cũng như lâm sàng nhằm xác định cơ chế tác hại của dioxin và chất độc da cam trên con người và môi trường. Viện cũng có thể phục vụ như một trung tâm đào tạo các nhà khoa học tương lai chuyên về môi trường học và y tế - môi trường học. Đây là một việc làm mang ý nghĩa quốc tế vì nó sẽ cung cấp những thông tin khoa học quý báu cho kho tàng tri thức của con người về tác hại của dioxin.

IXgFj08P.jpgPhóng to

Mến - cô bé 21 tuổi ở Vũ Thư (Thái Bình), nạn nhân của chất độc da cam - phải sống trong cũi suốt cuộc đời bi thảm của mình... - Ảnh: Đoàn Đức Minh

Không lý do gì Mỹ lại chối bỏ trách nhiệm

Cái nghịch lý cơ bản của chiến tranh là trong khi nạn nhân quằn quại khổ đau thì một bộ phận phục vụ chiến tranh lại ăn nên làm ra. Đối với người lính ngoài chiến trường hay người dân bị kẹt giữa hai làn đạn, chiến tranh đồng nghĩa với chết chóc, thương vong. Nhưng đối với các công ty sản xuất và buôn bán vũ khí, kể cả hóa chất dùng cho hủy diệt môi trường núp dưới danh nghĩa “khai quang”, chiến tranh là một thương trường béo bở, một cơ hội thương mại để mở rộng hoạt động sản xuất và thị trường vũ khí.

Khoảng 150 năm trước, khi Abraham Lincoln đắc cử tổng thống, Karl Marx đại diện cho Hiệp hội Công nhân quốc tế gửi lời chúc mừng. Lúc đó, Charles Francis Adams, một bộ trưởng của Mỹ ở London, thay mặt Lincoln trả lời Marx: “Chính phủ Mỹ ý thức sâu sắc rằng chính sách của Mỹ hiện nay cũng như trong quá khứ (...)là phấn đấu cho sự bình đẳng và công lý đúng đắn của tất cả các nhà nước, tất cả con người (...) Quốc gia không tồn tại một cách riêng lẻ và chỉ cho riêng quốc gia đó; quốc gia tồn tại để cổ vũ cho sự thịnh vượng và hạnh phúc của nhân loại bằng những hợp tác nhân đạo”.

Có thể nói rằng nước Mỹ đã hành xử trên tinh thần đó trong hơn một thế kỷ qua. Mỹ là một quốc gia được xây dựng trên nền tảng dân chủ và sự thật và không có lý do gì Chính phủ Mỹ lại chối bỏ trách nhiệm đối với những di hại của độc chất da cam. Hi vọng lần điều trần này sẽ đạt được một giải pháp tích cực và thiết thực cho nạn nhân chất độc da cam, để đánh dấu một thập kỷ ngoại giao mới, mở ra một chương mới tốt đẹp hơn trong mối quan hệ giữa VN và Mỹ.

Những con số chóng mặt

77 triệu lít là lượng hóa chất - trong đó 64% là chất da cam (agent orange) - mà quân đội Mỹ đã phun xuống miền Trung và Nam VN trong thời gian 10 năm (tính từ 1961 đến 1971).

2,6 triệu ha là tổng số diện tích chịu ảnh hưởng của hóa chất khai quang.

2,1 triệu người dân bị ảnh hưởng theo ước tính tối thiểu.

Có thể nói đây là một chiến dịch hóa học lớn nhất trong lịch sử chiến tranh thế giới.

(*) Tác giả cuốn sách Chất độc da cam, dioxin và hệ quả, Nhà xuất bản Trẻ năm 2004.

NGUYỄN VĂN TUẤN (*)
Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất