Phóng to |
Ở Billings có đôi nét dáng dấp thiếu cân đối, nhưng tính tình cởi mở, đôi mắt nhìn chăm chú, giọng nói hơi khàn và tiếng cười thẳng thắn, hồn nhiên; khi cười bụng anh ta phập phồng theo nhịp. Anh ta kể rằng mình đã làm phi công trong ba cuộc chiến tranh và đã hy sinh mọi thứ (kể cả vợ) để phục vụ Không quân. Người vợ đã ly dị anh vì hiếm khi anh đóng quân trong nước. Anh thích thú kể cho các phi công khác, với thái độ vui vẻ và thẳng ruột ngựa, về những trục trặc của mình với các cô bạn gái hiện đang sống ở Mỹ. Anh kể cho các bạn phi công rằng anh là tín đồ Thiên chúa giáo cho đến Thế chiến thứ hai, nhưng rồi nhận thấy rằng tất cả các phi công có đi lễ nhà thờ đều bị bắn hạ và từ đó anh không bao giờ trở lại nhà thờ nữa. Anh cho biết trong cuộc sống thường ngày, anh thích lái xe thể thao và lúc nào cũng mang vớ màu đỏ tươi.
Chúng tôi cất cánh lúc sáng sớm và lao vào bầu trời xanh thẳm. Billings được giao thực hiện một trận oanh tạc đã hoạch định trước và nghĩ rằng anh sẽ không có lệnh phải thực hiện các trận đánh ngay tức khắc. Từ Chu Lai, theo hướng Tây Nam, bay qua những đồn điền cao su và những cánh đồng bị bỏ hoang nằm dọc sông Trà Bồng giữa Quốc lộ 1 và dãy Trường Sơn, chẳng bao lâu chúng tôi đã tới huyện lỵ Trà Bồng nằm đơn độc giữa một vùng đồi núi rồi quay về hướng Nam, bay qua triền núi và tiếp tục tới một ngọn núi nhỏ hơn, theo tọa độ mục tiêu. Phía Nam mục tiêu vài km, ở lưu vực sông Trà Khúc, cuộc hành quân Hood River đang tới hồi kết thúc. Phía Bắc mục tiêu, những hố bom B-52 tạo một dãy dài những mảng đất màu vàng trên đồi núi trong một thung lũng, trên cao nhìn xuống trông như mặt biển sóng vỗ bập bềnh. Đỉnh dãy núi mục tiêu trải dài những nương rẫy của người Thượng, nhưng trên một ngọn núi đá lại là một khu rừng rậm vuông vắn mỗi cạnh dài chừng 200 mét và đây chính là mục tiêu của chúng tôi. Billings nói:
- Có nhiều người Thượng canh tác ở đây, họ trồng lúa và bắp.
Khi chúng tôi bay gần đến cánh rừng, Billings chỉ cho tôi vệt khói bay trên những lùm cây và giải thích:
- Hãy nhìn những đám khói kia! Anh có thấy khói không? Việt Cộng đang ăn bữa sáng đấy!
Tôi hỏi tại sao anh ta biết đó là khói của Việt Cộng. Anh ta nói:
- Sau một thời gian, anh có thể biết thói quen của Việt Cộng. Nhưng bây giờ thì chúng ta ra khỏi vùng này, cứ làm như chúng ta không biết gì hết. Ngay cả người Thượng ở đây cũng sống dưới quyền kiểm soát của Việt Cộng. Cách đây không lâu, chúng ta đã đổ quân vào đây khi cuộc hành quân Hood River bắt đầu, nhưng giờ thì đám quân này đã xuống đồng bằng rồi. Người Thượng rất buồn cười, họ sống ở chỗ trống trải. Chỉ có Việt Cộng là núp dưới những lùm cây. Toàn bộ đỉnh núi kia có thể là một trại căn cứ lớn. Tôi sẽ bay ra khỏi vùng này khoảng một giờ cho đến đúng thời điểm biên đội của tôi đến, làm thế để cho Việt Cộng không kịp đối phó.
Chúng tôi chuyển về hướng Bắc và bắt đầu lượn vòng trên huyện Trà Bồng. Trong lúc chờ đợi, trên radio lao xao những cuộc tán gẫu của các đơn vị bộ binh ở lưu vực sông Trà Khúc. Ai đó nói: “Chúng ta bị một Việt Cộng tấn công. Tay này lớn tuổi, hắn cầm gậy xông vào tấn công một lính trinh sát của chúng ta. Người lính trinh sát quát hắn dừng lại và nổ súng bắn hắn ngã gục”. Có tiếng cười phá lên: “Nói nghe như một trận đánh dữ dội thiệt”, rồi lại có tiếng cười.
Một phút sau, một giọng khác từ mặt đất cho biết: “Nếu các anh bay ra xa khỏi ngôi làng đang bốc cháy ở điểm xa nhất về phía Bắc, các anh sẽ ra ngoài khu vực tác chiến của chúng ta”.
Một giọng khác nói: “Chúng tôi đã thu được một số vũ khí và gom được một số dân tỵ nạn”. Một giọng khác nữa lại cho biết: “Chúng tôi đã thu được hai tấn gạo”.
Sau khi chúng tôi lượn vòng hai mươi phút, ba chiếc máy bay tiêm kích-oanh tạc báo cáo đã đến khu vực và thiếu tá Billings ngay tức khắc nhận ra họ ở vùng trời phía trước mặt. Họ báo cáo là mang sáu quả bom 500 pound (tương đương 230kg) và 6 quả bom na-pan. Quay trở lại mục tiêu, Billings nhìn thấy đám khói vẫn còn vương trên các lùm cây. Anh ta thốt lên:
- Cha mẹ ơi, đây chính là điều tôi mong chờ! Chúng nó vẫn còn ở đó!
Ngoặt nhanh trở lại, Billings sà thấp xuống ngọn núi điều chỉnh hướng bay sao cho hình bóng lùm cây trùm kín dần toàn bộ mặt kính chắn gió ở trước mặt buồng lái trong khoảng năm giây. Một quả rốc két phóng ra từ cánh máy bay và gây một tiếng nổ lớn. Lập tức, Billings cho máy bay ngóc lên, dập mạnh chúng tôi xuống ghế và bay vọt khỏi ngọn núi, để lại phía sau một cột khói trắng dày đặc bốc lên từ lùm cây cách đám khói lúc đầu khoảng 30 mét về phía Nam.
- Hãy ném bom xuống nơi cách cột khói khoảng 30 mét về phía Bắc. - Billings nói với viên chỉ huy tốp bay.
Tiếp tục lái máy bay của mình lượn theo một vòng hẹp phía dưới hai đỉnh núi bên cạnh, Billings quan sát chiếc tiêm kích-oanh tạc đầu tiên bổ nhào xuống khu rừng để hướng dẫn thực hành cho các máy bay khác. Chiếc thứ hai ném hai quả bom xuống rừng, nổ cách đám khói lúc đầu khoảng 100 mét.
- Được, được đấy! - Billings thốt lên. Anh ta nói với chỉ huy tốp bay: - Cố gắng sao cho những quả bom tiếp theo rơi cao tý nữa ngay ở phía trên cột khói của tôi.
Loạt bom tiếp theo hoàn toàn không trúng khu rừng mà lại rơi xuống một khoảnh toàn cây lúp xúp. Thiếu tá nhắc lại:
- Tôi muốn các anh ném gần cột khói của tôi kia mà.
Tiếng của chỉ huy biên đội:
- Xin lỗi nhé.
Máy bay tiếp sau đã ném bom xuống đỉnh núi, cách đám khói đầu tiên chừng 30 mét.
Billings reo lên:
- Đẹp đấy, con ạ. Ném trúng đấy!
Một máy bay bắn hai ống phóng na-pan xuống phía bên kia đỉnh núi, vào cánh rừng dưới chân núi đá. Billings nói: “Bên đó không phải là mục tiêu đâu”. Chùm bom na-pan tiếp theo rơi vào cánh rừng cách cột khói rốc két của Billings khoảng 50 mét về phía Tây và chùm bom thứ ba, cũng là chùm cuối cùng rơi cách khoảng 30 mét về phía Nam. Chúng tôi bay vào khu vực mục tiêu và lượn trên cánh rừng rậm ở độ cao khoảng trên dưới trăm mét và sà xuống thấp đến độ mặt đất dường như ở ngay phía dưới cánh trái máy bay. Những đám bụi mù do bom nổ tung lên và khói đen do bom na-pan đốt cháy bay lên từ cánh rừng. Một ít chất na-pan không phóng ra hết tiếp tục tự cháy ở những vạt rừng nhỏ và những trái bom 500 pound đã phạt đi những vạt cây thành những khoảng trống chiều ngang khoảng ba mét. Mùi bụi, đất, lá cây cháy và khói cay nồng xông vào mũi khi chúng tôi bay qua cánh rừng vừa bị tàn phá. Sau một vài giây, Billings chấm dứt vòng lượn chóng cả mặt, kéo cần lái đưa máy bay lên cao và nói với chỉ huy tốp bay:
- Nơi có khói bốc lên chẳng còn gì nữa. Anh làm việc giỏi lắm. Tôi sẽ ghi cho anh vào báo cáo là 80% bom đã ném trúng mục tiêu, do hai loạt bom rơi trúng khu rừng. Cám ơn nhiều, hẹn gặp lại khi khác nhé.
Billings nói thêm với tôi:
- Tôi không biết những người ở khu rừng ấy là dân gì, nhưng giờ này thì họ không còn ở chỗ ấy nữa đâu.
Vì còn một giờ nữa chiếc máy bay FAC khác mới đến thay thế, nên Billings quyết định bay về phía Đông vào đồng bằng sông Trà Khúc, tại đây Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn Không vận 101 đang kết thúc cuộc hành quân Hood River. Viên thiếu tá nói: “Chúng ta không thể nhìn thấy gì từ độ cao 500 mét”, và khi chúng tôi bay qua dãy núi và vùng đồng bằng ven biển đông dân, anh ta sà xuống độ cao 50 mét và bắt đầu bay theo hình chữ S để gây khó khăn cho các tay bắn tỉa. Binh lính của Sư đoàn 101 đang đốt nhà trên vùng đồng bằng ngay phía Bắc sông Trà Khúc. Cách đó khoảng vài trăm mét và ở độ cao dưới ba mươi mét, tôi nhìn thấy những đám lửa màu da cam bốc lên từ các căn nhà và những bóng người màu xanh đang cuồng dại, chao đảo trong hơi nóng cuồn cuộn như sóng và đôi khi như bị ngụp chìm trong đó. Thiếu tá Billings tiếp tục bay ngoằn ngoèo và sà xuống thấp rồi đột nhiên chúng tôi thấy một bóng người mặc bộ đồ đen, đi trên bờ ruộng và biến vào một lùm cây rậm, nơi có một ngôi nhà vẫn còn đứng nguyên. Thiếu tá ngoặt hẳn máy bay sang trái và sà thấp xuống trên bóng người đi trên đường, người này dừng lại và ngước nhìn lên. Billings nói với tôi:
- Hóa ra là một bà già. Lẽ ra bà ta không được có mặt ở đây, họ có 24 giờ để rời khỏi nơi này nhưng họ cứ quay trở lại. Đây là một trong những khó khăn lớn. Ta đã báo cho họ biết là không được ở trong khu vực bắn phá tự do vì họ có thể ăn đạn, song họ cứ quay lại. Nếu là nam giới, chắc chắn đó chỉ là một trong hai loại – trốn quân dịch hoặc Việt Cộng.
Tôi hỏi xem chính sách của chính quyền xử lý những kẻ trốn trại tập trung và quay về gia đình ra sao.
- Chúng ta không thể biết chắc những người này thuộc loại nào, song nếu như nơi nào đó đầy rẫy Việt Cộng, viên tỉnh trưởng cho phép chúng tôi được hủy diệt cả nơi đó.
Đúng lúc đó, chúng tôi bay qua một con suối chảy qua những cánh đồng và thấy ba bé trai trần truồng đang tắm trong một ao nhỏ, mắt nhìn lên máy bay của chúng tôi. Billings nói:
- Nhìn kìa, dân đang trốn ở đó, nhưng bây giờ nơi này không còn nằm trong khu vực hành quân của chúng ta nữa.
Chúng tôi đã bay nhiều dặm xa phía Bắc cửa sông và đây đó trong đám đổ nát vẫn còn một số khu nhà còn nguyên vẹn. Có dân đi lại trên những con đường gần các khu nhà đó và trẻ em vẫn chơi đùa trên sân, tuy nhiên ít có cánh đồng nào không có dấu vết những hố bom và đạn pháo.
Tôi hỏi xem Billings làm thế nào phân biệt được Việt Cộng với dân thường. Billings nói:
- Nếu họ bỏ chạy cũng là một cách. Ngoài ra còn có nhiều cách khác nữa. Đôi khi anh thấy rất đông người trên đồng ruộng, trông như một nhóm nông dân. Anh cũng biết là người dân chẳng thích gì Không quân Mỹ, và họ không nhìn vào những máy bay trên đầu họ. Nhưng ngay trên những cánh đồng đó, anh thấy có một thằng cha nào đội nón chóp cứ ngẩng lên cúi xuống liên tục. Hắn nhìn lên vì hắn muốn biết chúng ta bay theo hướng nào. Thế rồi anh bay qua bay lại vài vòng trên cánh đồng và có một gã dừng lại nhìn theo. Nếu đó là kẻ đã ngước nhìn máy bay của anh lúc nãy, anh có thể kết luận đó là Việt Cộng. Anh quan sát hướng đi của Việt Cộng này và gọi máy bay đến oanh tạc. Anh có thể phân biệt Việt Cộng và dân thường theo cách đó. Có hàng trăm cách phân biệt. Nó như là bản năng thứ hai, làm nhiều lần thành quen. Đôi khi anh thấy Việt Cộng ngâm mình trong bùn ẩn nấp ở bờ ruộng. Điều khó là ngoài rốc két ra, phi công chúng ta không có vũ khí nào khác. Nhưng đã có lần tôi loay hoay đuổi theo một gã đến gần chết. Tôi bắt gặp hắn ở ngoài chỗ trống và tôi lượn qua, hắn chạy đi, tôi vọt qua bên kia, hắn lại chạy ngược lại. Hắn núp trốn dưới cây, tôi sạt qua lùm cây, hắn dừng lại. Tôi phải rượt theo hắn suốt một giờ rồi mới gọi được máy bay đến làm một trận oanh kích.
Tôi nói đây là một cách bắn tỉa bằng bom. Anh ta trả lời:
- Đúng vậy. Anh cứ gọi thế cũng được.
Sau đó, khi quay trở lại căn cứ của phi công FAC, thiếu tá Billings cho biết:
- Theo tôi, anh có thể gọi đó là một loại trực giác. Tôi nghĩ, bây giờ tôi có thể ngửi thấy Việt Cộng cách khoảng 150 mét. Giống như mọi việc khác, có người có khiếu, nhưng có người lại không. Một số người không thể nhận ra Việt Cộng dù họ có cố gắng bao nhiêu đi nữa.
Đêm đó, cuộc hành quân Hood River chấm dứt. Binh lính nghỉ ngơi ngoài trời một ngày và họ được tiếp tế toàn đồ tươi để chuẩn bị cho cuộc hành quân mới.
Ngày 13 tháng 8 năm 1967, hai ngày sau khi cuộc hành quân Hood River kết thúc, Lực lượng Đặc nhiệm Oregon mở cuộc hành quân Benton. Tại Quảng Ngãi, tôi đã tận mắt nhìn thấy hậu quả của những trận bom, pháo và các trận đánh trên bộ song phần lớn tôi chưa chứng kiến tại chỗ cuộc hủy diệt nào. Giờ đây, tôi sắp được quan sát từng chi tiết một quá trình hủy diệt diễn ra trong cuộc hành quân Benton. Trong cuộc hành quân này, Lực lượng Đặc nhiệm Oregon vượt biên giới phía Bắc Quảng Ngãi ra Quảng Tín. Đã nhiều ngày tôi bay trên máy bay FAC phối hợp với Lữ đoàn 1, Sư đoàn 101. Ngày 12 tháng 8, tôi bay trên khu vực sẽ diễn ra cuộc hành quân Benton. Đây là một phi vụ trinh sát trong ba giờ cùng với một phi công mà tôi sẽ gọi tên là thiếu tá Ingersol.
Viên thiếu tá này lớn hơn các phi công khác vài tuổi và có phần dè dặt hơn. Tại khu nhà của phi công FAC ở căn cứ Chu Lai, anh ta thường đọc các tiểu thuyết kỳ bí có bìa mềm hoặc các loại tiểu thuyết khác trong khi những phi công khác lại túm vào tán dóc. Khi tham gia câu chuyện, bao giờ anh ta cũng nói với giọng điềm đạm và nghiêm túc không phù hợp với cách chuyện trò đùa giỡn thường ngày của bạn bè. Một hôm, khi những phi công khác đang ngồi nhậu và tán gẫu về các cô gái bán bar ở Thái Lan, anh ta góp chuyện: “Tớ nghe nói ở Bangkok có một số nhà hàng tuyệt vời”. Lần khác, trong khi chuyện gẫu với một đại úy ở phòng kiểm soát trung tâm FAC, anh ta nói lên cảm nhận tinh tế của mình về cảnh đẹp thiên nhiên của Quảng Ngãi: “Đó là một miền quê đáng yêu. Một trong những điều tôi rất thích là bay qua vùng đồng bằng ngược lên tận các thác nước. Thật hổ thẹn khi chúng ta lại hủy diệt nó”.
Trong khi thiếu tá Ingersol và tôi bay tới khu vực sẽ diễn ra cuộc hành quân mới, anh ta kể cho tôi về phương pháp phân biệt Việt Cộng với dân thường. Anh ta nói:
- Chúng ta nhận biết được Việt Cộng nếu hắn bắn anh hoặc hắn có mang vũ khí. Chỉ có hai cách đó thôi.
Về việc phát hiện đường mòn trong rừng, anh có những tiêu chí tinh tế hơn. Khi chúng tôi bay qua sườn một ngọn núi cao, Ingersol chỉ ra một con đường mòn, rộng như một con lộ, dẫn lên phía có nhiều núi của thung lũng. Tuy cây cối ở đây rất cao và rậm, vẫn có thể nhìn thấy con đường vì thỉnh thoảng lại có một khoảng trống trong các tán lá. Đến lưng chừng núi, con đường dường như vẫn chạy dưới tán lá dày đặc, bởi vì sau đó khi leo lên cao hơn, vẫn có thể nhìn thấy rõ, nhưng rồi nó hoàn toàn biến khỏi tầm nhìn. Thiếu tá Ingersol nói:
- Đó là cái mà chúng ta tìm kiếm. Anh có thấy con đường biến mất ở chỗ kia không? Điều đó cho thấy có thể có một trại căn cứ ở đó. Những đường mòn dẫn lên núi và rồi biến mất thường là đường mòn của Việt Cộng. Chúng ta cũng còn phải tìm xem có phải con đường vừa có người đi qua không.
Tôi nêu ý kiến của mình là từ độ cao 450 mét, chắc chắn rất khó biết con đường đó vừa có người đi qua hay không bởi vì nó bị che khuất dưới những tán lá dầy. Ingersol nói:
- Dù vậy, vẫn nhận ra được vì Việt Cộng thường dùng trâu và các động vật cỡ lớn để vận chuyển trang thiết bị và chúng sẽ để lại dấu vết. Những con đường mòn này thường bị dập pháo vào ban đêm.
Khi chúng tôi bay trên một hố bom rộng chừng mười mét làm mất dấu một đoạn con đường mòn, Ingersol nhận xét:
- Hãy nhìn xuống dưới để xem người ta làm đường mới đi vòng quanh hố bom ra sao? Đây là một dấu hiệu mà ta phải tìm kiếm.
Anh ta nói anh ta còn phát hiện các hầm trú ẩn kiên cố để yêu cầu máy bay tới đánh phá. Và như một ví dụ về dấu hiệu mà anh ta tìm kiếm trong các phi vụ trinh sát, anh ta cho biết trong một khoảnh đất nhỏ phía trên núi, có một đàn trâu mà cứ vài ngày lại biến mất. “Chúng tôi đoán rằng Việt Cộng dùng trâu để chở hàng.”
Thiếu tá Ingersol dành hầu hết ba giờ bay của mình bay trên một vùng chập chùng đồi núi và thung lũng vì đây là những nơi sẽ diễn ra cuộc hành quân Benton. Khu vực hành quân là một vùng hình chữ nhật mỗi cạnh mười và hai mươi cây số phía Tây Nam Phước Tiên, một thị trấn ở phía Nam tỉnh Quảng Tín. Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn 101 sẽ mở cuộc hành quân vào sáng hôm sau trong một khu vực mỗi cạnh dài đến mười cây số, hai ngày sau đó, một số đơn vị của Lữ đoàn 196 sẽ được không vận đến một khu vực rộng tương đương ở phía Đông.
Trước đó tôi đã quyết định là trong khu vực tác chiến này, tôi sẽ tập trung chú ý vào một vùng hẹp hơn, có thể nhận biết được dễ dàng trên bản đồ đường không cũng như trên mặt đất và có thể quan sát từ trên máy bay FAC càng lâu càng tốt vào những ngày đầu tiên của cuộc hành quân Benton để có thể biết các trận ném bom đã được thực hiện như thế nào trong một cuộc hành quân lớn. Ngay ở phía Tây Nam Phước Tiên, trong vùng đồng bằng trồng lúa bao quanh là những quả đồi, hai con sông nhỏ, sông Tiên và sông Trạm – hợp lại với nhau tạo nên sông Chang. Giữa ngã ba hai nhánh sông Tiên và sông Trạm có một ngọn núi nhỏ, cao khoảng ba trăm mét, gọi là Chóp Vum và dưới chân núi là một số làng và nhiều ngôi nhà dân nằm rải rác. Phía Nam Chóp Vum có một con đường đất chạy theo hướng Đông Tây qua những khu dân cư đông đúc. Tôi quyết định quan sát một khu vực vuông vắn mỗi chiều sáu cây số quanh Chóp Vum và do vậy tôi sẽ gọi nó là khu vực Chóp Vum. Phía Đông vùng này giáp với sông Tiên, phía Tây giáp với sông Trạm, phía Nam là con đường đất và phía Bắc cũng giáp với sông Tiên vì con sông này lượn gấp khúc về phía Tây sau khi chảy về hướng Bắc khoảng sáu cây số. Giữa Chóp Vum và những đường giáp ranh này, ngay phía trên có một rặng núi, có ngọn cao khoảng 600 đến 900 mét, làm nổi bật một khung cảnh thiên nhiên với nhiều đồi nhỏ cây cối rậm rạp, hiếm khi cao hơn hai mươi mét, trông như một dãy đảo nhỏ trong một biển ruộng lúa bậc thang. Một số gò đồi hình dáng tròn thấp, nhưng đa số là đồi có chóp dốc đứng nổi bật lên trên cánh đồng lúa như mô hình thu nhỏ của những ngọn núi bao quanh. Đa số nhà ở đây không cụm thành làng mà nằm rải rác giữa đồng. Ở những nơi mặt đất thoai thoải thì được tạo thành ruộng bậc thang trồng hoa màu. Dọc theo triền dốc đứng của một ngọn đồi, có một con đường mòn dẫn đến một khoảnh đất bằng phẳng gần đỉnh đồi. Ở điểm tận cùng này, nông dân đã trồng lúa và xây mấy ngôi nhà, từ đó có thể quan sát phần lớn thung lũng và những ngọn núi phía xa. Hầu hết mọi ngôi nhà ở Chóp Vum đều có sân trước để thả gà vịt, và phía sau là khu vườn trồng rau, có hàng rào cây lúp xúp bao quanh nhà, quanh sân, vườn. Thường thấy một loài cây cọ chỉ có một tán lá và cao tới mười lăm, hai chục mét mọc trong các vườn. Những con đường đất nhỏ lượn quanh co từ nhà này sang nhà kia trên đỉnh, quanh những ngọn đồi, và ở mỗi khúc gấp quanh dường như đều có một ngôi nhà nép mình. Cách bố trí nhà cửa như thế giúp cho một khối dân đông đúc vẫn có thể bảo đảm cho từng nhà có cuộc sống riêng tư. Chỉ ở một số nơi có khoảng năm, sáu chục ngôi nhà cụm lại với nhau làm nên ngôi làng, nhưng ngay cả ở những nơi này, các ngôi nhà cũng không xếp thành dãy kề bên nhau dọc các con đường làng mà vẫn cách biệt bởi các khu vườn và những bụi tre, lùm cọ. Cách bố trí làng xóm phụ thuộc vào những chỗ lồi lõm của cảnh quan, chứ không buộc phải theo một mẫu hình cân đối. Nhiều con đường nhỏ nối liền nhiều ngôi nhà với nhau và dẫn đến một con đường chính uốn lượn gần quanh tất cả các ngôi nhà. Làng Phái Tây nằm dưới chân Chóp Vum, giữa ngã ba sông Trạm và sông Tiên; làng Đức Tân nằm ở bờ Bắc sông Tiên cách Phái Tây hai cây số về phía Đông Bắc, làng Thanh Phước trải dài hai bên con lộ tạo nên ranh giới phía Nam của khu vực này. Tại Thanh Phước có hai nhà thờ xây bằng đá nằm cách nhau chừng năm mươi mét ở hai phía của con lộ. Mỗi nhà thờ cao khoảng ba tầng và dài hơn hai mươi mét, tường và trần nhà chạm trổ những họa tiết rối rắm và trên nóc có gắn thánh giá.
Trong buổi chiều bay cùng thiếu tá Ingersol trên vùng đất này, tôi thấy những đàn trâu đằm mình trong làn nước sông trong veo. Nhiều nông dân đang khom mình lao động trên đồng nước và trước sân nhà. Vùng này trước đây đã bị tàn phá nặng nề và rải rác đó đây là những khoảng đất màu xám hoặc đỏ quạch, dấu vết để lại của những ngôi nhà bị phá hủy. Tính sơ sơ, cứ hai mươi nhà lại có một nhà bị tàn phá. Nhiều khoảnh ruộng bây giờ chỉ còn là hố bom, cánh rừng trên sườn đồi đã ngả màu đen kịt và lồi lõm. Trên hai quả đồi liền nhau, đỉnh cao chừng ba mươi mét và chân đồi rộng gần hai trăm mét, bom đã tiêu hủy rừng cây và để lại những hố bom cái nọ chồng lên cái kia. Mỗi loại địa hình, núi, ruộng và sân nhà dường như đều nhận được một lượng bom như nhau, như thể là các phi công ném bom có ý định phân phát một số thuốc nổ bằng nhau cho các khu vực được đánh dấu ô vuông trên bản đồ của họ. Trên các ruộng lúa và sân vườn, cũng có những hố bom nhỏ hơn do pháo cày xới, song chúng không đủ lớn để có thể nhìn thấy dưới tán rừng rậm rạp này. Nhiều hố pháo mới còn giữ sắc vàng, còn tất cả các hố bom đều đã phủ một lớp cây lúp xúp và xem ra đã có từ nhiều tháng trước.
Tôi hỏi thiếu tá Ingersol xem những vụ ném bom này đã được thực hiện từ bao giờ, anh ta trả lời:
- Chỉ có Lính thủy đánh bộ đã hoạt động ở đây trước khi Lực lượng Đặc nhiệm Oregon tới. Song tôi không cho rằng các trận ném bom đã có từ dạo đó. Nhưng cũng có thể vào hồi đó. Tôi cũng chẳng biết. Mà có lẽ cũng cách đây khá lâu rồi.
Sau khi đã khảo sát xong khu vực tác chiến sắp tới, thiếu tá Ingersol bay về phía Nam qua nhiều dãy núi hướng về thung lũng sông Trà Khúc ở phía Bắc tỉnh Quảng Ngãi. Trên đường bay, Ingersol mải mê ngắm nhìn những thác nước. Anh ta nói:
- Anh sẽ thấy công việc của FAC khá là tẻ nhạt, nhất là trong những phi vụ V.R(*) như thế này. Tôi sẽ chỉ cho anh xem một vài thác nước ở đây. Chúng mới đẹp làm sao. Đây là một số trong những miền quê núi non đẹp nhất mà tôi từng được thấy.
Trước khi chúng tôi bay tới một thác nước, anh ta mô tả cho tôi nghe một cách chi tiết theo trí nhớ của mình, và cho tôi biết dưới chân thác nước có hồ nhỏ hay không, nước có chảy đổ xuống từ trên vách đá hoặc chảy qua những tảng đá hay không và thác nước có mấy tầng. Một trong những thác nước mà anh ta rất thích - một ngọn thác đổ từ trên cao xuống một hồ lớn có đáy bằng đá, nước trong veo ở chân thác - đã bị trúng bom; và Ingersol chỉ cho tôi một hố bom ở mép hồ.
Khi chúng tôi quay lại Chu Lai đã là chiều muộn, mặt trời phình to đỏ rực treo trên rặng núi đen thẫm. Trong máy vô tuyến trên máy bay, một giọng nói ở đâu đó cất lên: “Này, đêm nay sẽ có tiệc ở D 19 đấy nhé, tha hồ nhậu nhẹt. Nhớ đến nghe”.
Một giọng khác đáp lại: “Tôi sẽ đến nếu có thể, nhưng không biết đêm nay có đến được không. Cám ơn nhiều”.
Sáng sớm hôm sau, cuộc hành quân Benton đã được thực hiện tại khu vực tôi vừa bay qua cùng với thiếu tá Ingersol. Các binh sĩ thuộc Lữ đoàn 1 Sư đoàn Cơ động Không vận 101 đã bốn tuần liên tục chiến đấu và sắp bắt đầu tuần chiến đấu thứ năm. Vào tối ngày 12, các phi công FAC phục vụ Lữ đoàn 1, Sư đoàn 101 mỗi người chỉ được uống một cốc nước trước bữa ăn tối và sau bữa ăn cũng chẳng có lấy một giọt nước nào. Trong buổi họp lên kế hoạch lần cuối tại sở chỉ huy buổi tối đó, các sĩ quan cấp dưới gọi cấp trên của họ là “ngài”, đây là lần đầu tiên tôi nghe được điều này trong suốt hai ngày tôi sống cùng họ. Nhiệm vụ của họ trong ngày hôm sau là hướng dẫn máy bay không kích vào bốn bãi đổ bộ ban đầu (landing zone, gọi tắt là L.Z.), cho trực thăng chở quân vào khu vực. Những cuộc oanh tạc này là việc làm thường thấy và được gọi là “chuẩn bị bãi đổ bộ”. Trước khi đổ quân xuống, máy bay trực thăng còn dùng súng máy và rốc két bắn dọn đường.
Trong hai ngày đầu của cuộc hành quân, trên ghế sau của máy bay FAC chuẩn bị hoạt động có một quan sát viên pháo ngồi cùng phi công, do đó tôi không thể bay cùng; nhưng vào các buổi tối, những anh bạn phi công FAC kể lại cho tôi nghe những điều mà họ đã chứng kiến. Họ nói, vào phút chót trước khi công tác chuẩn bị bãi đổ bộ được thực hiện, một phi vụ không kích đã bị hủy bỏ do máy móc trục trặc, vì thế có một bãi đổ bộ chỉ nhận được hỏa lực rốc két và súng máy của trực thăng. Tại bãi đổ bộ thứ hai, công tác dọn bãi được thực hiện ở một khu vực gồm những ruộng lúa cao, theo đúng kế hoạch, song binh lính lại được đổ nhầm xuống cách đó 1 cây số, trên một đỉnh đồi chưa được san phá trước. Trong khi đó ở cách xa khoảng 7 hoặc 8 cây số, tại một đại đội pháo chịu trách nhiệm chi viện cho công tác chuẩn bị bãi đổ bộ và trong cuộc hành quân sắp tới, một máy bay trực thăng đã rơi trúng một xe chở đạn làm cháy xe đạn và nổ tung đại đội pháo, gây ra nhiều thương vong. Và do vậy, từ vị trí đó không còn có thể chi viện pháo cho bất kỳ bãi đổ bộ nào nữa. Việc bố trí một đài chỉ huy phục vụ cuộc hành quân trên đỉnh một ngọn núi nhỏ ngay phía Bắc sông Tiên - nơi con sông bắt đầu uốn theo hướng Bắc - lúc đầu được tiến hành thuận lợi nhưng rồi một đám cháy đã bùng lên ở bãi đổ bộ. (Theo các phi công FAC, các trận oanh kích do họ dẫn đường không bao giờ gây hỏa hoạn. Họ cho rằng chính máy bay trực thăng đã gây ra hỏa hoạn, do súng máy và rốc két của chúng). Khi hơn một trăm binh sĩ, một số khẩu pháo và nhiều hòm đạn được đổ xuống, thì đám cháy đã đến mức không thể kiểm soát được. Nhiều quả đạn pháo đã nổ trong ngọn lửa, và binh sĩ phải chuyển đài chỉ huy sang dựng trại ở quả đồi gần đó, tạm thời bỏ lại phía sau những khẩu pháo, cối bị phá hỏng. Máy bay trực thăng phải đến chở người và trang thiết bị của đài chỉ huy sang một ngọn núi ở cách đó khoảng 5 cây số về phía Đông. Đạn pháo vẫn lác đác nổ trên quả đồi đang bốc lửa nơi đặt đài chỉ huy cũ trong nhiều giờ. Nhưng trong hai ngày sau, có thêm bảy chuyến đổ bộ đã được hoàn thành mà không bị trục trặc gì nghiêm trọng.
Trong buổi chiều đầu tiên, thỉnh thoảng quân Mỹ bị bắn tỉa khi đào công sự trên đồi. Viên chỉ huy bộ binh ở quả đồi kế bên vị trí đài chỉ huy vừa rút đi phán đoán các tay bắn tỉa là lính Bắc Việt từ làng Đức Tân, cách đỉnh đồi khoảng 1 cây số về phía Tây bắn ra và anh ta yêu cầu ném bom triệt hạ ngôi làng. Một phi công FAC trẻ tuổi có bộ mặt nghiêm nghị, khô cứng như gỗ, nhân vật mà tôi gọi là trung úy Moore, chỉ dẫn cuộc oanh tạc và sau đó đã báo cáo là 20 hoặc 30 ngôi nhà đã bị hủy diệt. Anh ta nói với các phi công đồng nghiệp của mình về trận oanh tạc như thế này: “Tớ đã san bằng toàn bộ chỗ đó, nhưng có một ngôi nhà tớ không thể nào đánh trúng. Tớ đã bảo các phi công oanh tạc phải cố gắng ném bom trúng ngôi nhà, và chắc chắn xung quanh đó đã có đến sáu hố bom của loại bom 1.000 pound (454kg), nhưng vẫn không trúng được nó”. Anh ta nói tiếp: “Bây giờ thì việc phải triệt hạ ngôi nhà này là một vấn đề có tính nguyên tắc đối với tớ. Các cậu cứ chờ xem, tớ sẽ làm điều đó”.
Cũng ngày hôm đó, nhiều trận ném bom khác đã diễn ra ở nhiều nơi rải rác trong khu vực tác chiến. Khi đêm xuống, một đơn vị địch không rõ quy mô lực lượng đã tấn công vào số binh lính của sở chỉ huy mới di chuyển sang quả đồi bên cạnh. Một số địch quân leo lên ngọn đồi bỏ không và thu những quả đạn cối mà lực lượng thuộc Lữ đoàn 1 Sư đoàn 101 bỏ lại khi di chuyển sang vị trí mới rồi bắn vào quân ta. Kẻ địch đồng thời tấn công vị trí mới. Các chỉ huy bộ binh đề nghị pháo bắn và cũng yêu cầu thêm loại vũ khí chủ yếu của hỏa lực không yểm ban đêm là máy bay AC-47 (máy bay DC-3 cải biên thành máy bay quân sự có biệt danh là Spooky) được trang bị ba súng máy 7,62mm, còn gọi là tiểu liên, có tốc độ bắn 100 viên/giây. Máy bay AC-47 thả những quả pháo dù khi bắn lên sẽ rơi xuống và chiếu sáng như ban ngày. Tuy nhiên trong những điều kiện như thế, hỏa lực bắn ra cũng không thể đạt độ chính xác dù chỉ là tương đối, và thủ thuật là nã đạn tiểu liên xuống toàn khu vực nghi có địch. Trong đêm đầu tiên của cuộc hành quân, một máy bay Spooky đã tiêu thụ hết cơ số đạn của nó, tức là tới 21.300 viên. Hôm sau một báo cáo cho biết bốn lính Mỹ và 35 địch đã bị giết trong trận đánh. Trong ngày trước đó một trực thăng đã bị địch bắn rơi. (Trong thời gian còn lại của cuộc hành quân, khoảng hai tuần lễ, trung bình mỗi ngày có một trực thăng bị bắn rơi). Nhiều trực thăng cỡ lớn Chinook được điều đến chở một số máy bay bị bắn rơi ra khỏi vùng chiến sự và số còn lại thì bị hỏa lực rốc két phóng từ các trực thăng đang bay lúc đó bắn xuống tiêu hủy để ngăn không cho địch lấy radio, súng đạn và các trang bị trên máy bay. Ít nhất cũng đã có một trường hợp địch vào được một chiếc máy bay bị rơi và lấy đi một số trang bị trước khi máy bay bị phá hủy. Trong các bản tin ra vào tuần lễ kết thúc của cuộc hành quân, không có bài nào nói đến khoảng hơn một chục máy bay trực thăng bị bắn rơi và tuy Lục quân không xác nhận tổng số máy bay rơi, nhưng họ tỏ ra rất sẵn sàng đáp ứng khi có nhà báo nào ngỏ ý muốn nhìn tận mắt cuộc hành quân từ trên không hoặc trên bộ, hoặc muốn nói chuyện trực tiếp với các binh lính đã tham gia cuộc hành quân. Trong suốt thời gian tôi bay trên khu vực hành quân, tôi đã nhiều lần nhìn thấy các trực thăng Chinook bay qua các dãy núi về căn cứ, dưới bụng có dây cáp treo những xác máy bay trực thăng Huey.
Một bản tin nhan đề “Lính dù giao tranh với Tiểu đoàn Bắc Việt Nam” của Phòng thông tin thuộc Lữ đoàn 1 của Sư đoàn 101 miêu tả cuộc đụng đầu với đối phương như sau:
Núi Chuông Việt Nam (Ban thông tin 101) – Ngọn lửa từ những quả đạn pháo nổ như rắc hoa trên ngọn đồi. Lửa bốc cao trên đám cỏ voi khô, phun những cuộn khói đen lên bầu trời không một gợn mây. Đại úy Ronald G. Odom, quê ở San Fransisco từ trong máy bay ngó ra nhìn ngọn đồi đang rực cháy…
Sau khi tường thuật một vài cuộc giao tranh nhỏ với đối phương trong ngày, bản tin tiếp tục:
Ánh trăng chiếu xuyên qua đỉnh đồi tạo nên những bóng đen kỳ dị hạn chế tầm nhìn của phi công và làm thần kinh họ căng ra.
Đến khoảng 11 giờ 30 đêm, ánh trăng không còn nữa. Vài phút sau đối phương bắt đầu tấn công.
Odom kể lại: “Đối phương khai hỏa với mọi loại súng họ có. Chúng tôi bị hỏa lực cối 81mm và 60mm bắn. Phía bên sườn chúng tôi, trọng liên của họ bắt đầu bắn và bộ binh của họ tiến vào”.
Trước đó, Odom đã đánh dấu trên bản đồ các điểm có thể có trận địa cối của địch và Nemetz đã gọi pháo bắn vào đó. Dù có pháo chi viện song địch vẫn tiếp tục cày xới đại đội B bằng súng cối và vũ khí tự động.
Tại sườn Tây Bắc, trung úy Robert Berry, quê ở Boston và trung đội 4 của anh ta phải hứng chịu phần lớn cuộc tấn công. Và Odom nghe tiếng anh ta hét qua máy điện đàm: “Một số địch chỉ còn cách 10 mét. Đúng tầm tay lựu đạn. Ném!”.
Odom nhớ lại anh ta đã cảm nghĩ như thế nào khi nghe tiếng của Berry: “Cha này thuộc loại máu quá lạnh, tôi không thể tin nổi và anh ta đã tiếp tục giữ thái độ lạnh lùng bình tĩnh như vậy suốt cả đêm”.
Trung úy Thomas J. Courney, quê ở thị trấn Knoxville, bang Tennessee cho trung đội 3 bắn vào lực lượng địch đang xông tới sườn mình. Những viên đạn vạch đường đan chéo bao quanh trận địa của trung đội những đường chéo đỏ rực.
Cối địch tiếp tục nổ trên đồi. Đột nhiên báo cáo từ trung đội Berry cho biết vị trí trận địa cối của đối phương chỉ cách họ có 100 mét.
Quan sát viên phía trước, Nemetz, chỉ điểm vị trí và gọi một khối lượng lớn hỏa lực dội xuống.
Suốt đêm, đại tá Puckett khích lệ các chiến sĩ của mình. Ông ta vượt qua hỏa lực cối của địch để đến với các thương binh và đi ra tận vòng ngoài phòng ngự của đơn vị để nói chuyện với binh sĩ. Vào lúc hai giờ sáng, tức là gần chín giờ kể từ khi bắt đầu nổ súng, trận đánh kết thúc. Không gian tĩnh lặng bao trùm xung quanh những người lính dù đang chờ trời sáng.
Khi trời hửng sáng, các binh sĩ mỏi mệt của đại đội B đi xem xét xung quanh trận địa. Ba mươi lăm lính Bắc Việt Nam tử trận, vũ khí của họ nằm rải rác trên chiến địa.

Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận