03/06/2008 10:00 GMT+7

Ký ức không quên - kỳ 4

JONATHAN SCHELL
JONATHAN SCHELL

TTO - Đầu năm 1967, các quan chức Mỹ ở Việt Nam - cả quân sự và chính trị - thường nêu quan điểm rằng “dòng người tỵ nạn” là một hậu quả bất hạnh nhưng không thể tránh khỏi khi muốn tiến hành các cuộc hành quân có hiệu quả.

ce3KisUL.jpgPhóng to
TTO - Đầu năm 1967, các quan chức Mỹ ở Việt Nam - cả quân sự và chính trị - thường nêu quan điểm rằng “dòng người tỵ nạn” là một hậu quả bất hạnh nhưng không thể tránh khỏi khi muốn tiến hành các cuộc hành quân có hiệu quả.

Đến tháng 8, phần lớn các quan chức đều tuyên bố việc di dời dân chúng ra khỏi quê hương bản quán của họ là một chiến thuật có giá trị trong cuộc chiến chống lại Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Giới quân nhân nói riêng, rất thích trích dẫn câu nói nổi tiếng của Mao Trạch Đông rằng trong cuộc chiến tranh du kích, quan hệ giữa du kích với dân như cá với nước. Họ lập luận rằng chỉ khi nào tát cạn nước mới có thể bắt được cá. Tôi đã nghe câu nói hình ảnh của Mao ít nhất năm lần tại Quảng Ngãi. Trong một bài báo dưới đầu đề “The cause in Vietnam is being won” (Công cuộc của chúng ta ở Việt Nam đang thắng lợi) trên tờ The New York Times Magazine số ra ngày 15/10/1967, Tướng Maxwell D. Taylor, nguyên Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ và nguyên Đại sứ Mỹ tại Nam Việt Nam đã giải thích tính lô-gíc của việc kiểm soát dân chúng và tuy không nói đến các trại tập trung làm dẫn chứng, ông đã mô tả lợi thế của chính phủ Nam Việt Nam khi có khoảng từ ba đến bốn triệu dân ở trong và xung quanh các trại tập trung do chính phủ kiểm soát trong số khoảng mười bảy triệu dân trên toàn miền Nam:

“Trong những tháng gần đây, số dân thuộc quyền kiểm soát của Chính phủ đang tăng lên một cách đáng khích lệ ở vùng nông thôn là một chứng minh công cuộc bình định đang tiến bộ. Quả vậy, từ giữa năm 1965, số dân trong vùng nông thôn thuộc quyền kiểm soát của Chính phủ đã tăng lên khoảng ba triệu người. Trong số này, có khoảng 1.200.000 người đã tăng trong sáu tháng gần đây. Đồng thời, số dân chúng thuộc quyền kiểm soát của Việt Cộng đã giảm trên một triệu người kể từ năm 1965, số dân tăng cho Chính phủ là ở các vùng tranh chấp. Trong năm ấy, ước tính có khoảng 26% dân chúng toàn miền Nam (kể cả trong các thành phố) thuộc quyền kiểm soát của Việt Cộng nhưng đến nay con số đó đã sụt xuống chỉ còn 14%. Nếu gộp cả các thành phố, tổng số dân thuộc quyền kiểm soát chặt chẽ của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã tăng lên từ 6,6 triệu giữa năm 1965 lên đến 10,8 triệu giữa năm 1967.

Dân chúng thoát khỏi vòng kiểm soát của Việt Cộng là một tài sản có giá trị hai mặt theo quan điểm của chúng ta. Không những họ thoát khỏi sự đô hộ hà khắc của Việt Cộng mà họ không còn là nguồn nhân lực hết sức cần thiết để hỗ trợ cho phong trào du kích. Thông thường Việt Cộng bắt buộc phải sống bám vào nông dân để lấy tân binh, dân công, lương thực và các hình thức hỗ trợ khác. Nếu không có sự hỗ trợ của nông dân, phong trào du kích địa phương có nguy cơ suy yếu và tiêu hao dần.”

Tôi gặp một trung tá trẻ tuổi người Mỹ tại quận Bình Sơn đang thất vọng trước tình hình đang diễn ra ở trong tỉnh, nhưng anh ta cho rằng tình trạng này sẽ được cải thiện nhiều nếu kế hoạch quy mô anh ta đã suy tính có thể thực hiện. Sau trên một năm nói chuyện với những người Việt Nam trình độ tiếng Anh còn kém, vị trung tá này đã phát triển một kiểu phát âm rất chậm rãi, cẩn thận, chỉ dùng một số từ ngữ cơ bản tối thiểu. Kiểu nói này đã trở thành thói quen đến mức đôi khi nói chuyện với người Mỹ, anh ta vẫn nói theo cách ấy, đặc biệt khi muốn làm sáng tỏ những vấn đề khúc mắc. Anh chàng vừa nói chậm, vừa nhấn mạnh các từ ngữ và các thì trong văn phạm, vừa làm dấu hiệu giơ cao nắm đấm để thể hiện toàn tâm, toàn ý vào công việc. Đôi khi anh ta phải mất rất nhiều sức lực để giải thích một vấn đề về tương lai của tỉnh đến nỗi khi nói xong, anh ta phải thả mình ngồi phịch xuống chiếc ghế với một nụ cười mệt mỏi kiệt sức.

Hôm gặp viên trung tá, tôi được nghe buổi nói chuyện của anh ta với một quan sát viên của Bộ Chỉ huy Bình định của Mỹ ở Sài Gòn đến để đánh giá “tiềm năng” của tỉnh về chương trình Phát triển Cách mạng, một hoạt động của chính phủ Nam Việt Nam nhằm đối phó với chương trình giáo dục chính trị của Cộng sản.

- Ông xem đấy! Việt Cộng kêu gọi sự ủng hộ của dân chúng. Chúng tổ chức dân chúng. Dân chúng rất năng động, rất tự giác. Nhưng dân chúng mà chúng ta tưởng là đứng về phía ta thực ra chỉ là những kẻ ngờ nghệch, chậm hiểu. - Anh ta nhăn mặt buồn bã và giơ cao bàn tay thành nắm đấm ra phía trước, nói nhấn mạnh từng tiếng một. - Dân tỵ nạn ngồi chơi cả ngày, họ chẳng làm gì và chúng ta cũng chẳng làm gì để giải quyết tình hình này.

Rồi anh ta trình bày kế hoạch khái quát của mình để tái xây dựng.

- Chúng ta đã đưa họ ra khỏi nơi mà họ có thể sẽ bị giết. - Anh ngừng lại, mỉm cười và nói thêm. - Xin đừng hiểu nhầm tôi. Tôi không muốn họ phải chịu nhiều đau khổ hơn nữa. Họ đã chịu đựng đau khổ quá nhiều rồi, nhưng điều tôi muốn nói là chúng ta cần phải làm cho họ biết lý do tại sao họ phải ủng hộ chính phủ. Chúng ta cần làm cho họ có thêm động lực bản thân để tự mình bảo vệ lấy mình. Hiện nay họ chẳng có nghề nghiệp, nhà cửa hoặc bất cứ thứ gì có thể làm cho họ phấn khởi và tôi không trách tại sao họ lại thờ ơ. Hãy nhìn vào các trại. Bất cứ ai rồi cũng sẽ phải thờ ơ thôi.

Theo anh ta, yêu cầu đầu tiên cho việc tái thiết và xây dựng là phải có an ninh; và về vấn đề này, anh ta đã vạch ra một chương trình huấn luyện hoàn hảo rộng lớn cho thanh niên ở địa phương, bồi dưỡng cho họ một lòng tự tin và ý chí bảo vệ làng mạc chống lại Mặt trận Dân tộc Giải phóng. Tiếp đó, các làng cần phải xây dựng lại về vật chất, tốt nhất là để cho chính dân chúng tự làm. Anh ta nói:

- Người Việt Nam phải tự làm được điều đó. Chúng ta thường hay làm thay cho họ. Tôi biết cho trẻ kẹo quả là chuyện dễ dàng. Anh sẽ tự cảm thấy hài lòng với mình. Anh là nhất rồi. Nhưng với mỗi chiếc kẹo đó, anh đã làm cho trẻ mất lòng tin vào bố mẹ chúng vì bố mẹ chúng chẳng có tiền mua kẹo cho con. Rất nhiều lần tôi thấy người Mỹ đóng vai trò ông già Nô-en đi phát quà cho trẻ và cảm thấy ấm lòng, nhưng cái kiểu cách ấy làm hỏng trẻ con và làm cho người lớn mất cả lòng tự trọng. Giá chúng ta hiểu ra được vấn đề đó!

Phần tiếp theo của kế hoạch là việc thành lập một ban lãnh đạo hành chính dân chủ cấp làng, do dân bầu ra và đáp ứng được nguyện vọng của dân. Cuối cùng, sự thay đổi lãnh đạo ở địa phương phải đồng thời tiến hành với việc loại trừ hoàn toàn nạn tham nhũng ở cấp tỉnh và bắt đầu tiến hành chuyển sang chính quyền dân sự trên quy mô toàn quốc. Tóm lại, viên trung tá này muốn tạo được một xã hội hùng mạnh, dân chủ, phồn vinh, hạnh phúc, hoàn toàn đổi mới và hăng hái ủng hộ một chính quyền hoàn toàn cải cách ở Nam Việt Nam.

Tôi chỉ cho viên trung tá thấy rằng khoảng 70% các làng trong tỉnh đã bị phá hủy và hỏi liệu ông ta có thấy đó là một cản trở nghiêm trọng cho việc thực hiện kế hoạch hay không.

- Tôi biết chứ. - Anh ta trả lời. - Trên dải đất dài mười lăm cây số dọc bờ biển trong vùng hành quân của chúng ta, chỉ có hai làng là còn đứng vững và nếu có ai bảo còn có nhiều làng nữa thì chúng là bọn nói dối. Có một điều là người Việt Nam có thể xây dựng lại nhà của họ rất nhanh, chẳng có khó khăn gì lắm. - Rồi anh kiên nhẫn mô tả chi tiết các nhà tranh trước đây chiếm tỷ lệ 80% số nhà trong tỉnh đã được xây dựng như thế nào và nói tiếp. - Vấn đề là chúng ta phải thay đổi hình thái bố trí dân cư. Chính hình thái dân cư sống rất phân tán là điều kiện trước tiên giúp cho Việt Cộng tồn tại. Do đó chúng ta không nhất thiết phải di chuyển dân về làng cũ của họ. Nếu chúng ta có thể thay đổi hình thái bố trí dân cư, đưa dân sống tập trung trong các khu vực có thể kiểm soát chặt chẽ hơn thì chúng ta có thể thiết lập được hệ thống phòng thủ và chính quyền có thể kiểm soát được dân chúng dễ dàng hơn. Đêm nào chúng ta cũng có thể kiểm tra được thẻ căn cước của họ và bằng cách này sẽ ngăn không cho Việt Cộng xâm nhập.

Sau khi viên trung tá nói hết ý kiến của mình, vị quan sát viên đến từ Sài Gòn nói ông ta muốn sống một ngày và ngủ qua đêm trong một làng của quận này cùng với người thông dịch để tự mình đánh giá liệu xem các điều kiện đã chín muồi cho một chương trình Phát triển Cách mạng hay chưa và yêu cầu viên trung tá giới thiệu cho một làng. Lấy tay vỗ lên trán, viên trung tá cười to nhưng tỏ ra lo lắng nói:

- Ông không thể ngủ trong làng được đâu. Tôi không thể để cho ông làm chuyện đó. Chẳng có làng nào mà một người Mỹ có thể ngủ qua đêm được cả.

Sau khi kết thúc cuộc hành quân Malheur II tại thung lũng sông Vệ, Lữ đoàn 1 của Sư đoàn Không vận 101 nhảy một bước nữa ra phía Bắc và mở cuộc hành quân Hood River tại thung lũng sông Trà Khúc. Họ hy vọng là sẽ chộp được một đơn vị lớn quân địch bằng cách đổ quân xuống các đồi cao xung quanh thung lũng rồi quét xuống từ mọi phía. Nhưng cũng giống như hai cuộc hành quân trước, cuộc bao vây khép lại vào chỗ không người. Việc chạm trán lẻ tẻ với quân địch là thường xuyên trong các cuộc càn quét, nhưng lần này thì ít hơn thường lệ. Con số chính thức về quân địch bị giết trong hai tuần hành quân là 78 và con số thương vong Mỹ là chết: 3, bị thương: 38. Tuy nhiên, bộ binh, pháo binh và không quân yểm trợ cuộc hành quân đã phá hủy hầu hết các làng trong thung lũng và các làng trên cánh đồng ven biển ở cửa sông.

Vào giữa tháng 8, lần đầu tiên tôi đến căn cứ Chu Lai ở phía Bắc tỉnh Quảng Ngãi, phía Nam tỉnh Quảng Tín, lúc đó là Sở chỉ huy của Lực lượng Đặc nhiệm Oregon. Tôi được viên sĩ quan trưởng phòng Thông tin của Lực lượng Đặc nhiệm, thiếu tá Patrick H. Dionne, thông báo ngắn gọn về lực lượng địch ở tỉnh Quảng Ngãi. Ông ta là một người to béo, bệ vệ, có bộ mặt luôn luôn tươi cười và cánh tay vươn dài ra bắt tay đón chào mỗi khi có ai vào phòng của ông, một kiểu chào như muốn nói: “Chúng ta sẽ sống và làm việc hợp ý nhau!”. (Trong suốt thời gian ở Quảng Ngãi, tôi hoàn toàn được tự do muốn đến nơi nào cũng được và tôi còn được thiếu tá Dionne và các sĩ quan thông tin khác khuyến khích cùng bay với các máy bay Kiểm soát phía trước và theo dõi các cuộc hành quân trên bộ càng nhiều càng tốt.)

- Chúng tôi ở đây để tuyên truyền cho dân chúng trong tỉnh tin tưởng vào chính phủ Nam Việt Nam. - Thiếu tá Dionne nói. - Cái khó là dân không muốn nghe chúng ta tuyên truyền cho chính phủ Việt Nam Cộng hòa, do đó việc chúng ta thực sự đang làm là nhét cái chính phủ đó vào trong họng họ. Vùng này là của Việt Cộng kể từ thời Nhật, do đó thực sự là họ chưa bao giờ có một mối liên hệ nào với chính phủ. - Rút một tấm thẻ màu hồng ra khỏi tủ hồ sơ để tham khảo, anh ta nói tiếp - Có từ bảy trăm ngàn đến một triệu người tại tỉnh Quảng Ngãi. Khoảng một nửa số này nằm dưới quyền kiểm soát của chính phủ Việt Nam và một phần tư theo Việt Cộng… Trong tỉnh có cả lính Việt Cộng địa phương và quân Bắc Việt. Sư đoàn 3 Bắc Việt đóng căn cứ tại huyện Đức Phổ.

Tôi hỏi gần đây có binh lính Bắc Việt xâm nhập vào miền Nam không. Thiếu tá Dionne đáp:

- Thực tế, số này là những người đã vào Nam từ năm 1954 rồi ở lại và tổ chức dân chúng địa phương để ủng hộ Hà Nội. Chúng ta có thể nói họ là những người theo miền Bắc đang sống ở bên này giới tuyến khu phi quân sự. Quân đội Bắc Việt Nam ở đây là Việt Minh cũ nằm vùng. Họ có gia đình ở đây và thực tế họ chẳng có gì nhiều ở ngoài đó để khiến họ trở ra Bắc. Kế đó là Việt Cộng, gồm lính địa phương và quân chủ lực. Lính Việt Cộng địa phương sống tại gia và trang bị kém: mỗi tiểu đội có thể chỉ có hai súng trường và sáu quả lựu đạn nhưng từng Việt Cộng có động cơ chiến đấu rất cao và đảm trách công việc của một cán bộ chính trị. Ngược lại với quân Bắc Việt, lính Việt Cộng địa phương hoạt động đơn lẻ cùng với những người khác cũng đơn lẻ. Họ có lòng tin khá chắc chắn là họ sẽ thắng. Quân chủ lực có tổ chức thành đơn vị và thường xuyên di chuyển. Họ được trang bị tốt hơn.

Thiếu tá Dionne nói với tôi rằng những thành tích đáng tự hào nhất của Lực lượng Đặc nhiệm Oregon là việc khai thông Quốc lộ 1 cho giao thông hoạt động trở lại. Khi mới đến, Lực lượng Đặc nhiệm nhận thấy Việt Cộng đã phá hủy hầu hết các cầu trên Quốc lộ này. Công binh của Lực lượng Đặc nhiệm Oregon đã xây dựng lại các cầu và tổ chức một buổi lễ khánh thành long trọng để đưa vào sử dụng với sự có mặt của nhiều quan chức cấp cao của Lực lượng Đặc nhiệm và viên tỉnh trưởng. Hàng tuần các toán lính Mỹ thực hiện nhiều cuộc quét dò mìn và trung bình mỗi tuần phát hiện được hai quả. Xe đạp và xe máy bắt đầu đi lại giữa một số thành phố mặc dù có nhiều đoạn vẫn chưa sử dụng được.

Sau khi kết thúc cuộc hành quân Hood River, Lữ đoàn 1 của Sư đoàn Không vận 101 lại phải chuyển quân lên hướng Bắc và mở cuộc hành quân Benton ở vùng Nam của tỉnh Quảng Tín. Tôi bay trên thung lũng sông Trà Khúc trong các máy bay FAC do Không quân giao cho Lữ đoàn 1 của Sư đoàn Không vận 101 trong hai ngày cuối cùng của cuộc hành quân Hood River.

Các phi công FAC có hai nhiệm vụ: Một là bay trên các khu vực được phân vùng cụ thể, đánh dấu những gì mà họ nghi vấn và lựa chọn các mục tiêu đề nghị không quân oanh kích. Các mục tiêu này không cần được xác định lại cho chính xác mà cứ thế cho dội bom luôn, trừ khi các mục tiêu này gần các đơn vị bạn hoặc các vùng cấm không được oanh tạc. Một vài phi công FAC ngày nào cũng bay trên một vùng nhất định trong nhiều đợt, mỗi đợt kéo dài nhiều tuần, nên từ trên máy bay, họ biết rất rõ những gì có trên thực địa như thể họ có bản đồ trong tay. Nhiều phi công khác sẽ được biên chế cho Lữ đoàn và sẽ bay yểm trợ cho Lữ đoàn trong mọi cuộc hành quân, bất cứ khi Lữ đoàn hoạt động ở đâu.

Nhiệm vụ thứ hai của phi công FAC là hướng dẫn các máy bay tiêm kích-oanh tạc bay đến mục tiêu. Người phát ngôn của Không quân luôn thận trọng nhấn mạnh rằng phi công FAC không thể tự mình có quyền gọi cho các máy bay đánh bom vào bất cứ một mục tiêu nào, và trong mọi trường hợp, họ đều phải được phép của Lục quân. Trên thực tế, điều đó có nghĩa là khi một máy bay FAC phát hiện một mục tiêu mà họ muốn gọi oanh tạc, họ phải dùng bộ đàm để báo vị trí này cho Trung tâm Không yểm Trực tiếp (DASC) của Vùng Quân đoàn và xin phi vụ tiêm kích-oanh tạc trợ giúp, Trung tâm Không yểm Trực tiếp sẽ cân nhắc mức độ cấp thiết so với các phi vụ yểm trợ khác vào lúc ấy để ra quyết định cho một số máy bay hạn chế đang bay trên trời hoặc đang ở “vị trí báo động trực chiến” ở sân bay sẵn sàng cất cánh ngay lập tức để đánh vào mục tiêu. Không quân chia các vụ oanh kích làm hai loại được gọi là oanh kích theo kế hoạch có chuẩn bị trước và oanh kích ngay lập tức. Oanh kích chuẩn bị trước được lên kế hoạch từ 24 giờ cho đến hai tuần truớc khi thời gian thực hiện oanh kích; còn các cuộc oanh kích ngay lập tức được tiến hành nhiều nhất chỉ trong vòng vài giờ sau khi bộ binh hoặc máy bay FAC yêu cầu trong trường hợp họ phán đoán là đã phát hiện được mục tiêu địch.

Trong lúc nói chuyện với một phi công máy bay FAC, có lần tôi nói nhầm là “oanh kích theo kế hoạch” mà đúng ra phải nói “oanh kích theo kế hoạch chuẩn bị trước”, anh ta đã sửa lại ngay. Khi tôi hỏi sự khác nhau giữa các từ ngữ “oanh kích theo kế hoạch” và “oanh kích theo kế hoạch chuẩn bị trước”, viên phi công trả lời: “Mọi cuộc oanh tạc của chúng ta đều có kế hoạch cả. Chúng ta không có cuộc oanh kích nào không có kế hoạch”.

Tại căn cứ Không quân Đà Nẵng, một thiếu tá đã thông báo cho tôi vai trò của các phi công FAC ở Vùng I. Khi tôi hỏi loại mục tiêu nào thường bị oanh kích theo kế hoạch chuẩn bị trước, anh ta trả lời:

- Trong rừng núi, bất cứ vật gì chuyển động đều bị coi là Việt Cộng. Chúng ta đã đuổi hầu hết dân chúng ra khỏi khu vực nên những ai còn tiếp tục ở lại đều bị coi là Việt Cộng. Chẳng ai còn lý do gì phải ở lại đấy nữa. Chúng tôi oanh tạc các vùng căn cứ địch và các trung tâm nghỉ ngơi và dưỡng sức của Việt Cộng.

Lục quân muốn nói đến các trạm ngủ qua đêm dọc đường hành quân được coi là nơi V.C. nghỉ ngơi và dưỡng sức như các trung tâm an dưỡng của quân Mỹ ở các thủ đô nước ngoài như Bangkok, Tokyo, Sydney mà hằng năm, Lục quân vẫn thường gửi lính sang đó nghỉ một tuần.

- Phần lớn các hoạt động của chúng tôi đều ở đồng bằng. - Viên thiếu tá tiếp tục. -Tại đây, chúng tôi thường tấn công vào các hầm ngầm kiên cố và công sự phòng thủ. Việt Cộng ẩn nấp trong đấy và cũng cất giấu dự trữ hậu cần trong đó nữa. Tất nhiên, chúng tôi không thể đánh trúng hết mọi công sự. Chúng tôi còn đánh vào các làng có phòng thủ. Trong một số làng này, hệ thống hầm hào, công sự đào chằng chịt giống như trong Thế chiến thứ I, trông thật đáng kinh ngạc. Chúng ta đều biết các làng có phòng thủ này là căn cứ địch. Nhưng trước khi đánh một điểm nào, chúng tôi đều phái một toán Tâm lý chiến đến để báo trước cho dân làng chạy trốn. Trước kia, chúng tôi thường thông báo trước cho dân chúng bằng tờ rơi nhưng không hiệu quả mấy nên chúng tôi chuyển sang dùng loa gọi. Chúng tôi cho dân có khoảng ít nhất từ mười đến mười lăm phút để ra khỏi khu vực trước khi chúng tôi thực hiện cuộc oanh tạc. Nhưng chính các cuộc oanh tạc ngay lập tức lại cho kết quả tốt nhất. Đó là khi chúng tôi có con số để báo cáo người chết vì máy bay oanh tạc (mà chúng tôi gọi tắt là K.B.A. - Killed by Air). Tất nhiên quân địch ở ngoài trời, không ẩn nấp, là loại mục tiêu mà chúng tôi ưa thích nhất.

Tôi hỏi anh ta khi muốn xin phép oanh tạc thì phải làm gì.

- Trước tiên, chúng tôi kiểm tra khu vực xem có còn quân bạn không, tiếp đó là gửi yêu cầu lên Trung tâm Không yểm Trực tiếp, và yêu cầu này phải được viên tỉnh trưởng chấp thuận. - Anh ta nói. - Chúng tôi chưa bao giờ thực hiện một cuộc oanh tạc mà không xin phép tỉnh trưởng trước. Ông ta là người Việt, và ông ta biết tình hình địa phương nên phân tích đến cùng thì ông ta là người biết rõ ai là bạn và ai là thù. Và dù sao thì, đây là đất nước của họ, nên họ phải biết chuyện gì đang xảy ra.

(Sau này, tôi hỏi ông Hoàng Đình Thọ, tỉnh trưởng Quảng Tín về các bước cụ thể thường được sử dụng để bảo đảm việc cho phép oanh tạc được chính xác và biết rằng trước mỗi cuộc hành quân trong tỉnh, ông ta đã xác định một số vùng nhất định, điển hình là các vùng xung quanh huyện lỵ – là vùng không được phép oanh tạc, và cho phép các chỉ huy trưởng hành quân trên mặt đất được toàn quyền oanh tạc các vùng còn lại trong khu vực hành quân.)

Viên thiếu tá giải thích rằng Không lực Việt Nam Cộng hòa có tổ chức riêng, tách biệt với Không lực Hoa Kỳ nhưng cùng cất cánh từ các căn cứ giống nhau. Không lực Việt Nam Cộng hòa sử dụng các máy bay tiêm kích-oanh tạc A-1 cánh quạt yểm trợ cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa - loại máy bay được Hải quân Mỹ sử dụng trong cuộc chiến tranh Triều Tiên.

- Không lực Việt Nam Cộng hòa có bộ phận FAC riêng của họ. - Viên thiếu tá bảo tôi. - Họ hoạt động theo kiểu chúng ta vẫn làm. Một nửa của căn cứ dành cho Không lực Việt Nam Cộng hòa và một nửa còn lại dành cho chúng ta.

Tôi hỏi máy bay FAC của Không lực Việt Nam Cộng hòa chủ yếu làm gì.

- Máy bay FAC của Không lực Việt Nam Cộng hòa thường theo dõi các đoàn xe. Họ khá bận rộn trong công việc này. Nhưng đó là công việc rất cần thiết. Không lực Việt Nam Cộng hòa dùng một phần sân bay Đà Nẵng. Chúng ta xây dựng cho họ các tiện nghi thiết bị giống hệt như tiện nghi thiết bị của Mỹ, nhưng riêng biệt… Các tiện nghi thuận lợi, nhưng lính Việt Nam Cộng hòa không biết chăm sóc. Bây giờ anh hãy đến đấy mà xem, đúng là một mớ hỗn độn. Anh có biết việc đầu tiên họ làm là gì không? Là tháo các vòi nước, đầu nối ống nước trong các phòng tắm đem ra chợ bán.

Tôi hỏi các máy bay FAC của Mỹ có hướng dẫn các máy bay tiêm kích-oanh tạc của Không lực Việt Nam Cộng hòa đánh vào mục tiêu không. Viên thiếu tá trả lời:

- Các máy bay cũ A-1 mà Không lực Việt Nam Cộng hòa đang dùng chậm hơn máy bay của Mỹ rất nhiều nhưng lại chính xác hơn nên họ không dùng máy bay FAC nào cho công việc ấy cả.

Tôi biết rằng các đề xuất về mục tiêu nêu ra cho các máy bay tiêm kích-oanh tạc của Mỹ chủ yếu do các chỉ huy mặt đất, các phi công FAC và các báo cáo của “nhân viên chỉ điểm” – tên gọi hầu hết các nguồn thông tin khác. Đôi khi một tỉnh trưởng cũng ra lệnh đốt cháy hoặc ném bom một làng. Mọi mục tiêu báo cáo cho Trung tâm Không yểm Trực tiếp đều thể hiện bằng tọa độ trên bản đồ quân sự và Trung tâm Không yểm Trực tiếp sẽ chuyển tiếp các tọa độ này cho phi công FAC đang hướng dẫn cuộc oanh tạc. Phi công FAC sẽ xác định vị trí mục tiêu trên một bản đồ tương tự mà anh ta mang theo trên máy bay. Các bản đồ đều có các vạch ngang dọc làm thành một lưới ô vuông. Các dòng ngang cách nhau 2cm được đánh số từ 01 đến 99; các cột dọc cũng cách nhau và đánh số như vậy. Mỗi ô vuông do các dòng và cột tạo ra biểu thị một cây số vuông trên mặt đất. Các tọa độ đưa ra gồm sáu chữ số chia thành hai nhóm ba số, ví dụ như 691 873. Hai con số đầu của nhóm ba số thứ nhất chỉ một đường vạch dọc và hai con số đầu của nhóm ba số thứ hai chỉ một đường vạch ngang. Con số thứ ba của nhóm số thứ nhất chỉ một khoảng cách tính bằng đơn vị trăm mét ở phía Đông của đường vạch dọc trên bản đồ và con số thứ ba của nhóm số thứ hai chỉ một khoảng cách tính bằng đơn vị trăm mét ở phía Bắc của đường vạch ngang trên bản đồ.

Tuy nhiên, các khoảng cách hàng trăm mét không được kẻ trên bản đồ nên viên phi công cần phải tự ước lượng 100 mét hay 300 mét – theo các đường ngang dọc – dài đến đâu. Và thậm chí cả khi viên phi công có ước đoán chính xác đi nữa, khu vực nhỏ nhất mà anh ta có thể xác định được theo hệ thống này vẫn là một ô vuông mỗi cạnh dài một trăm mét(*). (Tất cả mọi điểm trong ô vuông mỗi cạnh một trăm mét ở phía Đông Bắc của tọa độ 691 873 như ví dụ nêu trên được chỉ định bằng chính tọa độ này). Trong khoảng 50% số phi vụ, Trung tâm Không yểm Trực tiếp có thể báo cho các phi công FAC biết được đặc điểm mô tả loại mục tiêu đã được xác định trong ô vuông mỗi cạnh một trăm mét bằng tọa độ. Một vài thuật ngữ mô tả được sử dụng chính thức như “hầm ngầm”, “cấu trúc quân sự” và “ấp địch” là để nói đến các mục tiêu đôi khi do máy bay có thể phát hiện được khi bay trên không, nhưng các cách mô tả khác như “vùng Việt Cộng nghỉ ngơi”, “nơi nghi ngờ là chỗ tập trung quân địch” và “đường thâm nhập của địch” phi công lại không thể nhìn thấy được từ trên máy bay, và trong các trường hợp đó, phi công phải dựa hoàn toàn vào các tọa độ. Một khi phi công đã tìm được vùng mục tiêu ở trên bản đồ, anh ta sẽ xác định vị trí trên thực địa bằng cách sử dụng các nét nổi bật của địa hình được thể hiện trên bản đồ làm điểm chuẩn tham chiếu; tại vùng núi, anh ta sẽ dựa vào hình dáng các đường sống núi, và ở vùng đồng bằng, sẽ dựa vào các con sông, đường sá và làng mạc. Sau khi tìm thấy mục tiêu trên mặt đất, anh ta sẽ dùng điện đàm để chuyển các tọa độ cho máy bay tiêm kích-oanh tạc khi bay đến mục tiêu. Ngay trước khi oanh kích, anh ta sẽ “đánh dấu” mục tiêu bằng cách bắn xuống một quả rốc két phốt-pho làm vọt lên một đám khói trắng rất dễ nhìn và gây cháy trên một vùng có đường kính khoảng hai mươi mét. Dựa vào vệt khói, các máy bay tiêm kích-oanh tạc sẽ ném bom hoặc các thùng na-pan, phóng rốc két hoặc xả súng vào mục tiêu. Trong lúc đó, máy bay FAC lượn vòng tròn quanh đấy, quan sát cuộc oanh tạc và dùng bộ đàm thông báo cho các phi công máy bay tiêm kích-oanh tạc biết điểm bị oanh kích còn lệch xa mục tiêu bao nhiêu.

Thông thường có hai hoặc ba máy bay tiêm kích-oanh tạc trong một phi vụ và mỗi máy bay đảo qua hai hoặc ba lần tùy thuộc vào loại vũ khí phi cơ mang theo. Khi oanh tạc xong, phi công FAC sẽ bay trên khu vực lần nữa để đánh giá thiệt hại rồi báo cáo cho Trung tâm Không yểm Trực tiếp và cho các phi công tiêm kích-oanh tạc. Bản báo cáo đánh giá thiệt hại này bao gồm tỷ lệ số “bom ném trúng mục tiêu” và tỷ lệ % “mục tiêu bị phá hủy”. Phi công cũng sẽ báo cáo khi có bất cứ “cấu trúc quân sự nào bị phá hủy”. Khi có bộ binh bạn ở trong khu vực gần mục tiêu, viên chỉ huy ở mặt đất sẽ dùng bộ đàm thông báo tọa độ vị trí quân của họ cho viên phi công FAC biết và viên phi công này chuyển tiếp cho các phi công tiêm kích-oanh tạc. Viên phi công FAC cũng sẽ liên lạc với các chỉ huy pháo binh gần đó để nắm được đường đi của các viên đạn pháo đang bắn lúc đó để cho anh ta có thể tránh được. Một phi công FAC nói với tôi rằng cứ 20 phi công FAC thì có một bị giết chết trong năm 1966, nhưng anh ta giải thích rằng anh ta và đồng đội cảm thấy ít sợ hơn so với lính trên mặt đất. Trên máy bay, anh chẳng biết lúc nào anh bị bắn cho đến khi có một viên đạn đến sát gần máy bay hoặc thực tế đã bắn trúng máy bay. Và anh ta mô tả viên đạn bay sát gần gây ra tiếng xoẹt như có ai vừa đóng nắp hộp đựng tàn thuốc ở ghế sau trên xe hơi. Bản thân các phi công máy bay tiêm kích-oanh tạc không thể xác định được mục tiêu. Một phi công máy bay tiêm kích-oanh tạc đóng tại Đà Nẵng nói với tôi:

- Chúng tôi thường bay nhanh 500 - 600km/giờ nên không thể nhìn thấy gì nhiều. Tôi đã bay trên 100 phi vụ và tôi chưa bao giờ nhìn thấy một xác người hay một con người nào. Thực tế, tôi không thể nhìn thấy một cử động nào trên mặt đất. Phi công FAC mới thực giỏi. Còn chúng tôi chỉ chuyên đi ném bom mà thôi.

Vào tháng 8, Lữ đoàn 1 của Sư đoàn 101 được biên chế sáu phi công FAC. Trong cuộc hành quân Malheur I và Malheur II, họ đã bay ra ngoài Đức Phổ, nhưng vì Lữ đoàn này chuyển dịch ra hướng Bắc để tiến hành hai cuộc hành quân Hood River và Benton, các phi công FAC cũng chuyển căn cứ hành quân ra Bắc Chu Lai. Trong khi Lữ đoàn tiến hành cuộc hành quân, các phi công này luôn luôn duy trì một máy bay trên vùng hành quân từ sáng tới chiều. Mỗi phi công thường bay theo kíp ba giờ bay mỗi ngày, mặc dù đôi khi do yêu cầu khẩn cấp, mỗi máy bay có thể làm theo kíp sáu giờ. Từ ngày 10 đến 21 tháng 8, hầu như ngày nào tôi cũng bay với các phi công biệt phái cho Lữ đoàn 1 này, cùng ăn ở tại căn cứ của họ.

Ngày 10 tháng 8, hôm trước ngày cuối cùng của cuộc hành quân Hood River, tôi đã bay từ sáng sớm với một phi công người Texas. Anh ta có bộ mặt nhỏ và khổ người gầy, tuổi khoảng ba mươi. Tôi sẽ gọi anh ta là đại úy Reese. Chiếc máy bay FAC tiêu chuẩn là một chiếc Cessna O-1, với hai chỗ ngồi, một phía trước và một phía sau; có một cánh quạt và bốn ống đựng rốc két phốt-pho đặt dưới cánh, mỗi bên hai chiếc. Nó có thể bay chậm với tốc độ 60 - 70km/giờ và có thể bay vòng cua rất hẹp mỗi khi phi công muốn nhìn kỹ một khu đất nhỏ trong một lúc khá lâu. Trước khi leo lên máy bay, đại úy Reese mang lên người chiếc áo giáp, chiếc mũ bảo hiểm, một khẩu tiểu liên và một bộ trang bị tự mưu sinh - hai trang bị sau là để sử dụng phòng khi máy bay bị bắn, buộc phải hạ cánh khẩn cấp và phải sống trong rừng. Trên đường bay, nơi các máy bay đỗ giữa các tấm sắt bảo vệ chống các mảnh văng của đạn cối hoặc rốc két, có ba thợ cơ khí không mặc áo đang ngồi chơi, chờ đợi tiếp dầu hay sửa chữa động cơ cho máy bay O-1. Trái với nội quy, đôi khi các phi công để cho thợ cơ khí leo cả vào ghế phi công và lái máy bay lăn trên một đoạn đường nhựa dài gần năm mươi mét giữa trạm xăng và các bức tường bảo vệ.

Ngay trước khi máy bay của chúng tôi đi ra đường băng, một trong những thợ cơ khí đang kéo các chốt bảo hiểm ra khỏi các ống đựng rốc két ở hai bên cánh lên tiếng hỏi đại úy Reese:

- Ông có oanh kích mục tiêu nào ngày hôm nay không, thưa ông đại úy?

- Tôi không biết. - Đại úy Reese trả lời.

Thợ cơ khí thường hỏi các phi công về các phi vụ của họ nhưng ít khi nhận được câu trả lời cụ thể. Trong gần suốt ngày, thợ cơ khí ngồi trên các hộp gỗ xung quanh chiếc tủ lạnh giải khát trên có một miếng vải bạt làm mái che. Họ đọc đi đọc lại các số báo cũ của tờ Stars and Stripes, lật đi lật lại dễ đến hàng trăm lần các tờ tạp chí Sir! và Escapade đã bị dấu tay dầu mỡ bôi lem. Cách nơi có bóng râm bé xíu mà họ đang ngồi là một khoảng sân nhựa rộng, nóng rực, với những tấm tôn lượn sóng, lấp lánh dưới nắng và các máy bay. Một phần công việc của họ là lắp ráp các quả rốc két phốt-pho và gắn chúng dưới cánh của máy bay FAC. Các quả rốc két dài gần một mét, gồm có ba đoạn mà thợ cơ khí phải vít vào với nhau.

Có lần tôi hỏi một thợ cơ khí vừa bỏ xuống sân nhựa một thùng bốn quả rốc két rằng nếu tung rốc két lên trời và cho rơi xuống đường băng thì nó có thể nổ không. Anh ta nhặt một đoạn của quả rốc két có ghi chữ “Đầu đạn”, đưa nó lên cao khoảng 1,5 mét và nói:

- Nó sẽ nổ nếu tôi thả cho rơi từ đây. Nếu rơi vào anh, nó sẽ thiêu cháy anh liền mấy ngày và ngọn lửa không thể nào dập tắt được. Để dập lửa, anh phải dùng một loại hóa chất đặc biệt chúng tôi để trong lán đằng kia.

Thợ cơ khí không biết gì về các cuộc hành quân mà máy bay phải yểm trợ mãi cho đến bốn năm ngày sau, khi “Bản tin” của Lực lượng Đặc nhiệm Oregon đến tay họ và họ có thể đọc các mẩu tin như “Các đơn vị Bộ binh đã tiến hành một cuộc tấn công ba mũi và trận đánh diệt được bốn mươi tư địch, nâng tổng số xác đếm được lên sáu mươi lăm trong hoạt động ở vùng phía Bắc Đức Phổ”, hay “Lính Bộ binh không vận đã phát hiện hai quả mìn Trung Quốc khi sục tìm quân địch trong rừng rậm ở Tây thị xã Quảng Ngãi, một người bị trúng đạn sau lưng đã bị bắt và đã được trao cho các nhà chức trách. Lính dù thu được ba vũ khí của địch và một tấn rưỡi gạo”.

Thỉnh thoảng, một anh thợ cơ khí nào đó có thể nghe phi công FAC kể lại ít nhiều mẩu tin về hoạt động đang xảy ra nhưng thông thường, thợ cơ khí chỉ bơm xăng vào máy bay, nhìn xem chúng cất cánh rồi biến mất trên bầu trời, đọc lại các tờ báo cũ và lắng tai nghe tiếng bom rền cả ngày bên kia rặng núi.

Khi đại úy Reese và tôi thắt các dây bảo hiểm vào ghế, một thợ trẻ vẫy tay ra hiệu cho chúng tôi đi vào một đường băng phụ. Đại úy Reese phải chờ một máy bay tiêm kích-oanh tạc F-4 cất cánh trước chúng tôi. Chiếc F-4 loang lổ màu sơn ngụy trang xanh và nâu, thân hình nặng nề như con cá mập, đôi cánh ngắn củn, các cánh đuôi chếch xuôi nghiêng và chiếc mũi đen chúi xuống, vừa cất cánh khỏi đường băng vượt qua trước mũi máy bay chúng tôi. Trong mấy giây, tiếng gầm rú của động cơ làm váng cả đầu và đánh bạt hết mọi suy nghĩ. Trong khoảng mười lăm giây, ánh lửa xanh có ngọn màu da cam dần dần tan biến khi máy bay kéo lên một góc gần như thẳng đứng.

JONATHAN SCHELL
Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất