15/10/2008 10:00 GMT+7

Hồi ký Sơn Nam - Kỳ 12

SƠN NAM
SƠN NAM

TTO - Một sự kiện lịch sử đối với tôi là đón tiếp vua Bảo Đại, do chánh quyền Pháp ở Cần Thơ tổ chức. Học sinh đóng vai chủ động, múa điệu thể dục nhịp nhàng, cầm cây gậy tròn, sơn màu cờ tam sắc, quơ qua quơ lại, nghiêng mình, quì gối, đại khái kiểu thể dục nhịp điệu của thiếu nữ ngày nay.

1Mj4j0nD.jpgPhóng to

Vua và hoàng hậu đến, ai nấy phấn khởi, như dành cho thiện cảm vì tự trong tiềm thức, mình là nước mấy ngàn năm văn hiến mà không có ông vua thì vô duyên quá! Lính mã tà xếp hàng rào danh dự chờ sẵn.

Dân ngoài đường, ngoài cổng ung dung đứng xem, chắp hai tay sau mông. Vài cụ già khăn đen áo dài, che dù đến, chắp tay xá khi vua đi ngang nhưng động tác ấy xem như lạ. Vua còn trẻ, mập mạp, mặc hoàng phục màu vàng, khăn vàng. Nam Phương hoàng hậu theo sau, bén gót. Cả hai ngồi xuống hàng ghế đầu, bên cạnh quan Pháp. Lại có người mặc áo xanh, khăn xếp, có lẽ là Phạm Quỳnh. Vua không nói gì cả, mỉm cười, nhìn thẳng. Hoàng hậu cầm cây quạt, xòe ra che miệng, nghiêm nghị nhưng trông như vui. Nói chung, dư luận cho rằng bà Nam Phương mặt mày trông “phúc hậu”, xứng đáng hơn... ông vua.

Dụng ý của thực dân và của bọn quân nhân Nhật đang lộng hành là muốn tạo dư luận về kỷ cương của “quốc gia”. Dân đứng phía xa cứ dùng tay chỉ chỏ, phải chăng nhà vua như thấy bực bội? Quả thật, vua chỉ là khách, xứ nầy là thuộc địa Pháp, đến xem vì tò mò. Đọc báo thấy nước An Nam buổi ấy có bản Đăng đàn cung, một kiểu quốc thiều nhưng nhạc ấy có trổi lên hay không, chẳng ai biết! Vài huấn luyện viên thể thao, do Pháp đào tạo ở Phan Thiết đưa về đã trình diễn, sắp hình Kim tự tháp, lớp dưới 8 người, đứng trên vai họ là 6, là 4, là 2 người.

Đến những thanh nữ mặc quần ngắn, sơ mi ngắn, diễu hành rập ràng, rồi thiếu nhi. Thực dân đang suy đồi, cố đàn áp cuộc khởi nghĩa, dường như bỗng dưng còn dạt dào sức sống! Hằng tuần, học sinh diễu hành trên đường phố Cần Thơ, ca ngợi thống chế Pête (Pétain), Thống chế này thắng Đức hồi Đệ nhất Thế chiến (1914-1918) với trận Vécđon lừng danh lại chịu đầu hàng quân Đức qua trận chiến vừa rồi, ngoan ngoãn làm tay sai. Nhưng có giữ thể diện qua lời ăn tiếng nói: Nước Pháp cũng như nước Việt, thuộc địa Pháp, cần thức tỉnh, phục hưng luân lý quốc gia để cầu mong giữ được nước. Thanh niên nam nư diễu hành khắp đường phố, đi rập ràng, phô bày thể lực. Hát rằng: “Ngài thống chế ơi, chúng con có mặt đây, trước mặt ngài là người đang cứu vãn nước Pháp. Xin thề theo chân ngài để phục vụ Tổ quốc”. Lại còn bài tươi trẻ hơn: Một đóa hoa tươi cài trên nón, một bài hát nở trên môi. Một con tim vui vẻ và thành thật. Với bao nhiêu điều kiện cơ bản ấy, chúng ta có thể tiến tới nơi xa vời nhất của địa cầu nầy.

Lại còn sự động viên khéo léo, đánh vào bản năng hiếu chiến như thời còn là bộ lạc, chưa văn minh. Thanh niên lực lưỡng xếp hàng chừng mười chàng, viên trưởng toán chợt la lớn bằng tiếng Pháp: “Chú ý. Chuẩn bị xông trận!”. Đoàn thanh niên lập tức rùng hai gối cho thấp, hai bàn tay nắm chặt, như hạ quyết tâm. Rồi cả bọn la lớn, rập ràng:

- Pi, Ha, Hi.

- Pi, Sơmi, Ladam.

Phải chăng đây là tiếng động viên của bộ lạc nào ở châu Phi, thời tiền sử. Mãi đến nay, đọc sơ qua vài quyển sách về văn minh cổ, tôi vẫn không hiểu. Muốn hỏi, hỏi ai bây giờ?

Lại còn những cuộc thi khá ngoạn mục, gọi chạy việt dã (cross country). Họ chạy tắt theo một lộ trình mơ hồ, chỉ biết nơi xuất phát và điểm đến. Ai đến trước thì thắng giải. Gay go lắm. Chạy bằng ngang qua vùng đất hoang, nơi có đường sá, nơi sình lầy, vượt chướng ngại vật, lắm khi phải băng qua vũng bùn đầy gai góc, bụi rậm. Kẻ thắng cũng như kẻ bại khi đến đích được reo hò, nhưng mình mẩy họ ướt mem, lem luốc.

Kiểu tập dượt quân sự chăng? Để khi hữu sự thì đánh giặc. Đánh cho ai, vì mục đích gì? Đáng chú ý là phong trào nầy khá hấp dẫn đối với dân thành thị đang có khoảng trống tâm hồn. Người xem như thích thú. Nhưng cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ năm trước còn đó, với những chiếc xe lấm máu, với người bị bắt, xỏ nhượng đưa lên Sài Gòn, nhốt dưới hầm xà lan, chờ đưa ra Côn Đảo. Những thường dân bị bắn giết, tra tấn dã man. Khám đường chật chội.

Sau nầy được biết thêm ở Cao Lãnh, ở Cai Lậy xảy ra sự đàn áp bắt bớ khôn tả xiết, nhất là Cai Lậy với đốc phủ Tâm mà chính người “quốc gia” cũng ghê tởm, vượt mức tưởng tượng, gọi hắn là “con hùm xám”. Nhộn nhịp ở học đường và cơ quan là phong trào “Khỏe để phụng sự”, “Đoàn kết và mạnh khỏe về thể chất để phụng sự”.

Nhưng ai đoàn kết với ai? Mạnh khỏe để đi lính, phụng sự cái gì? Phải chăng là cho thực dân Pháp đã lừng khừng đầu hàng Nhật. Singapore một cửa khẩu và căn cứ hải quân, không quân của Anh từ lâu đã lọt vào tay Nhật, Nhật thảo kế hoạch lập khối Đại Đông Á, ra báo chữ Việt, lại có bài ca đại khái với lời lẽ “Ta là người Việt Nam... Á Tế Á”. Á Tế Á là Á châu, Anh gọi là Asia, viết theo chữ Hán. Lại có Nghĩa sĩ đảng do người Nhật thành lập, thủ lãnh ở Cần Thơ là người Việt với người đẹp luôn luôn đi bên cạnh. Vài người Nhật mang gươm, với quân hàm, theo sau là mươi người Việt và một vài lính Nhật mà thiên hạ bảo đó là người Trung Hoa bị bắt đi lính ở Mãn Châu, hoặc người Mông Cổ (?). Lại đồn rằng mấy người nầy thuộc đảng Hắc Long có quyền tiền trảm hậu tấu (?).

Thanh niên cứ hát, đi đều bước, thêm số thanh nữ đẹp và khỏe. Ảnh thống chế Pête biểu tượng của nước Pháp “phục hưng” được chưng bày khắp nơi. Về mặt nổi, bức tranh xã hội như sôi động, nam nữ đang tuổi dậy thì say sưa với lối suy nghĩ mới: phải đẹp, mạnh khỏe về thể xác, giỏi về thể thao; những chuyện lớn lao của cả nước thì đã có các bực lão thành, các vị chính khách lo rồi. Nên tuân thủ, đừng bày ra lý luận viễn vông. Nhưng hỡi ôi, ai cũng thấy đó chỉ là bề mặt giả tạo, mong manh, lòe loẹt như bó hoa chưng bày trong cái bình đã nứt trong căn nhà đang phá sản.

Ai nấy lo toan, nhưng chưa biết lo toan chuyện gì? Nhất định sắp có việc lớn xảy ra, không tránh được. Dưới biển, có những tảng băng chìm, to tướng đang trôi lờ đờ. Trên mặt biển, chim hải âu bay lượn nhưng sự yên lặng rõ ràng là giả tạo. Thối nát từ cốt lõi. Trong vở kịch của Sếchxpia, dường như nhan đề là Hămlét, một nhân vật đã thốt câu lừng danh: “Có mùi gì thối rữa đang bốc lên từ vương quốc Đan Mạch nầy”. Đến như thơ Lục Vân Tiên cũng được đề cao: Trung hiếu và tiết hạnh được nhìn qua khía cạnh là ngoan ngoãn, sống bám theo hình thức cổ truyền. Trung với nước Pháp, nghe lời nước Pháp đang đầu hàng.

Đến như ca dao, ngạn ngữ của Pháp và Việt cũng được gom góp, tuyển chọn, chứng minh rằng văn hóa Việt và Pháp rất tương đồng: siêng năng, ngoan ngoãn, an phận, tin vào luật quả bao. Nhưng lớp vỏ quảng cáo ấy quá mong manh. Bối cảnh lịch sử đã khác hẳn. Bản Vọng cổ xem như thôn dã, chữ nghĩa mơ hồ, xa thực tế nhưng chứng minh sự trong sáng của văn hóa Việt. Kinh nghiệm nầy, tôi thấm nhuần được nhờ xem qua Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh và Hoài Chân. Văn nghệ là sản phẩm đa dạng.

Trong lúc bầu không khí nóng bỏng, nếu khó tánh ta sẽ đánh giá đây là sản phẩm vô tích sự, cầu an, thậm chí gây tác động tiêu cực, ru ngủ... Nhưng nghệ thuật, cụ thể là quyển Thi nhân Việt Nam theo tôi thấy, lúc bấy giờ quả thật là cần thiết, với mặt chìm, tiềm ẩn của nó. Nó chứng minh rằng người Việt Nam đã triển khai tài năng của người xưa để lại, qua ca dao, qua chuyện Kiều. Thi nhân của thế hệ mới chịu khó, chịu vấp váp để cạnh tranh nhau, theo kiểu cạnh tranh lành mạnh. Thử đọc lại vài tuyển tập thơ ca của cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ta gặp nào thơ Đường luật, ca trù, kiểu văn chương thù tạc, lời lẽ công phu, nắn nót, đời sau chỉ nhớ đôi mươi bài hay. Thế kỷ XX là thời kỳ mở tung với ảnh hưởng sâu đậm của Tây phương, đặc biệt là văn hóa Pháp, không riêng về thơ ca mà cả về kiến trúc, âm nhạc, hội họa.

- Ngập ngừng mép núi quanh co,

Lưng đèo quán dựng, mưa lò mái ngang.

Vì vu gió hút nẻo vàng,

Một trời thu rộng, mấy hàng mây nao.

Nghe man mác, sâu lắng, dễ hiểu, rất Việt Nam.

- Lớp lớp mây nao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ, bóng chiều sa.

(Huy Cận)

Hoặc:

- Lời kỹ nữ:

Xao xác tiếng gà

Tiếng ngà lạnh buốt

Mắt run mờ, kỹ nữ thấy sông trôi.

- Du khách đi.

Du khách đã đi rồi.

(Xuân Diệu)

Phải hội nhập với trào lưu mới, thời đại của phi cơ, điện thoại, tàu chiến.

Tôi đã hiểu tại sao lúc gạo châu củi quế mà Thi nhân Việt Nam bán giá cao đã thu hút độc giả. Một cuộc tính sổ của giai đoạn thực dân. Tôi nhớ ở trường Trung học Cần Thơ học sinh chỉ mua chừng mươi cuốn, chuyền tay nhau mà đọc. Đọc rồi chép. Lứa trẻ luôn luôn lãng mạn, hâm mộ cả người làm thơ. Trong Thi nhân Việt Nam ghi tiểu sử, với ảnh, địa chỉ các nhà thơ, vài bạn thử gởi thơ làm quen, nói chung các thi nhân trả lời rất nhã nhặn.

Thơ Chế Lan Viên khóc số phận người Chăm, mới lạ mà quen thân:

- Chiều hôm nay ngồi đây trên bờ biển,

Ta lặng đếm thử bao nhiêu thế kỷ,

Đã trôi trong một phút vội vàng qua.

Ta lặng nghe cả thế giới bao la,

Tụ họp lại trong lòng muôn hột cát.

Hàn Mạc Tử được lưu ý và mến mộ với vài câu đơn giản mà trước ông dường như không ai nghĩ đến:

- Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên.

- Gió theo lối gió, mây đường mây,

Cành trúc buồn thiu, hoa bắp lay,

Thuyền ai đậu bến sống trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay.

Rất tiếc là trong tuyển tập này, chỗ dành cho Thâm Tâm và Trần Huyền Trân gần như không có. Tại sao vậy? Đó là hai nhà thơ đắng cay với thế sự, nhưng là điệu thảm não tích cực. Thí dụ như trong Độc hành ca, đăng báo Xuân năm ấy, phải chăng đã nhắc đến Nam Kỳ khởi nghĩa 1940 qua hai câu:

- Ngẩng đầu, núi quấn mây tang,

Ngó Đông lửa cháy, nhòm Nam khói mù...

... Cố nhân ơi hỡi người xưa,

Dọn đi tam sự, đây mưa về rừng!

Cần Thơ là trung tâm văn hóa - hiểu theo nghĩa văn nghệ. Những năm ấy, sẵn cơ chế về pháp lý, bèn lập Hội khuyến học Cần Thơ với thành phần sáng lập viên là những người đáng cho nhà nước tin cậy: bác sĩ Lê Văn Ngôn (em học giả Lê Thọ Xuân), giáo sư Nguyễn Văn Kiết dạy trung học Phan Thanh Giản, thi sĩ Trực Thần (thơ ký sở Trước bạ)... Tổ chức buổi nói chuyện về Bùi Hữu Nghĩa, về Cử Trị là những nhà thơ có phần mộ ở Cần Thơ. Bùi Hữu Nghĩa gốc ở Bình Thủy. Hai vị nầy là sĩ phu yêu nước thời Pháp đến. Họ Bùi gốc nhà nghèo, gia đình chài lưới, tới lui vùng rạch Cái Khế, sau đi Biên Hòa học ở trọ nhà bà con, vợ ở Biên Hòa là bà Nguyễn Thị Tồn. Bà nổi danh với thành tích lớn: dám ra tận Huế kêu nài cho chồng khỏi án tử hình vì bị viên bố chánh Trà Vinh buộc vào tội xúi giục người dân tộc Khơme nổi loạn. Bùi Hữu Nghĩa đã bênh vực quyền lợi khai thác cá tôm (gọi thủy lợi) của người Khơme địa phương. Ông Bùi làm tuồng hát bội Kim Thạch Kỳ Duyên nổi danh buổi ấy nhưng khi tuồng cải lương ra đời, Kim Thạch Kỳ Duyên như chẳng còn tiếng vang. Ông về hưu khi Pháp đến, giữ tiết tháo, họa vận bài thơ của Tôn Thọ Tường (theo giặc), ca ngợi nghĩa quân ở chiến khu, xem bọn theo giặc là loài cáo.

- Hùm nương non rậm, toan chờ thuở,

Cáo loại vườn hoang, thác có ngày.

Một góc cảm thương dân nước lửa

Đền Nam trụ cả dễ lung lay.

Một chi tiết: Khi lâm bệnh nặng, ông khuyên người nhà sờ vào chân, thấy chân bắt đầu lạnh thì báo cho ông biết. Khi người nhà bảo đã lạnh, ông nói bình thản: “Thôi, ta đi”. Rồi tắt thở, êm ái. Hiểu rằng ông đã tu tiên từ lâu, không chủ động được trước tình thế nước mất nhà tan thì ít ra khi nhắm mắt, cũng chủ động trước số phận của cá nhân mình. Nhớ lại trường hợp Tiên Điền Nguyễn Du.

Thích tiêu dao đó đây, câu cá ở biển Nam, săn bắn trên núi Hồng, đầu đội khăn màu vàng. Bất đắc chí vì Trịnh-Nguyễn phân tranh, khi gần hấp hối cũng căn dặn người nhà sờ thử cho biết đôi chân đã lạnh chưa. Bùi Hữu Nghĩa có bài vị tại chùa Nam Nhã, chùa đạo Minh Sư do ông lão (cũng như vị đại lão hòa thượng trụ trì) nổi danh là Nguyễn Giác Nguyên, một trong những lãnh tụ lừng danh của Nam Bộ hồi phong trào Minh Tân (Duy Tân). Minh Sư là dạng tu tiên khổ hạnh, cơ ngơi tu hành không gọi là Tự nhưng là Đường. Ngoài những buổi diễn thuyết về văn hóa dân tộc, hội còn mở cuộc thi văn hóa.

Giải nhất thuộc về Phi Vân, với tác phẩm Đồng quê, gồm nhiều truyện ngắn gây ấn tượng sâu đậm (mãi đến nay, vẫn còn độc giả). Những chuyện vui tươi, gọn gàng. Bấy lâu, nhiều người nhận định ở Nam Bộ chỉ là “văn nói”, “nói như thế nào, viết như thế ấy” chớ không có “văn viết”. Với Đồng quê của Phi Vân, ta thấy “văn nói” nào phải lấy cái máy ghi âm để “thâu băng” rồi phát ra, viên thơ ký đánh máy lại là xong. Đó là một kỹ thuật riêng, đòi hỏi tay nghề, câu nào phải cải biên, nói theo người viết nhạc là “biến tấu” lại, tóm gọn hoặc kéo dài ra. Chữ nghĩa trên trang sách khó diễn đạt lại giọng điệu hoặc bộ tịch của người nói. Về mặt nầy, tôi thấy Phi Vân lúc bấy giờ đâu khoảng 30 tuổi đã thành công. So với văn phong của Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của, luôn cả Hồ Biểu Chánh, ông đã cải tiến một bước dài với “văn nói”.

SƠN NAM
Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất