Phóng to |
Trong Gửi VB, bài Tập làm thơ (cùng với bài Hành trình của cây) có thể xem như là tuyên ngôn thơ, hay đúng hơn, bộc bạch thơ, tự thú thơ của tác giả. “Mỗi sáng làm vài dòng, thử khác với mình, vung tay cao hơn đầu, bất cần trán/ Vẫn không qua khỏi cái bề mặt lầm lỳ của cuộc sống” (Tập làm thơ). Nỗ lực bất thành trong việc đưa thơ cất cánh thoát khỏi sức ám ảnh của quyết định luận “văn học phản ánh hiện thực” chăng? 19 bài thơ còn lại trong tập thơ 21 bài có lẽ đã xác nhận lời “tự thú” này.
Gửi VB cho người đọc cái cảm giác đang đọc những phiến đoạn, những trang rời rạc của một cuốn nhật kí. Trong đó, chỗ này thì kể chuyện về những chuyến đi; chỗ kia thì nói về việc chuyển nhà; chỗ khác nữa lại ghi chép những sự vụ vụn vặt: lúc dậy sớm, lúc đến công sở, lúc về nhà, lúc đi ngủ, lúc ốm, lúc xem một em bé vẽ tranh... Tóm lại đó là những “vật liệu” – tôi muốn dùng lại một khái niệm cơ bản của chủ nghĩa hình thức Nga đầu thế kỷ XX – hết sức gần gặn với cái mà bản thân tác giả từng chế giễu bằng cụm từ “cỏ thực tế” (Tập làm thơ), và chúng chẳng có vẻ gì là “nên thơ” cả! Nhưng chính cách tác giả sử dụng vật liệu, chính “thủ pháp” - một khái niệm cơ bản khác mà chủ nghĩa hình thức Nga đề xuất - đã nhào nặn để vật liệu cỏ thực tế trở thành thơ đích thực.
Trên một phương diện nhất định, Gửi VB là những phát hiện mới mẻ, ít ra là với tác giả, về những gì tưởng như đã quen thuộc đến mức nhàm chán. Ngay ở bài đầu tiên của tập thơ, Để được đi xa thì..., đặt tình huống phải dậy vào lúc 4 giờ sáng, Vàng Anh đã kịp ghi lại cái cảm giác bỡ ngỡ đầy thú vị (mà không phải bất kỳ ai dậy vào giờ ấy cũng để tâm ghi lại): “Dậy sớm/ Từ lúc bốn giờ sáng/ Nhạc mở thế nào cũng là to/ Mới biết lũ chó không hề ngủ/ Hớn hở đi theo chủ/ thành đàn/Và hai con mèo/ vắng mặt/ không lí do”. Dường như cái thế giới cũ kỹ này vẫn chứa đựng không ít những ngạc nhiên đang chờ đợi con người khám phá, chỉ cần người ta không nhìn nó bằng cặp mắt thờ ơ mà thôi.
Vì thế, khi viết về môi trường công sở - đối với nhiều người khác là cái địa ngục chôn vùi cá tính bởi sự đồng phục hoá tinh thần, là bãi lầy làm hoen ố nhân cách bởi thói đố kị, sự kèn cựa tủn mủn và tính xu nịnh - Vàng Anh vẫn thấy lấp lánh một niềm vui: “Đến khi máy lạnh chưa mở, bình đun nước chưa mở, và cửa còn đóng/ Khi mùi giấy tờ còn ấm suốt hành lang và tiếng giầy của chính mình vang đến nhức óc/ Thấy yêu đến nghẹt thở cái công tắc đèn mỗi ngày mình là người đụng đến đầu tiên” (Công chức). Người ta dễ nhầm tưởng rằng đây là niềm vui của một công chức mẫn cán, yêu công sở và yêu công việc (nên luôn đến cơ quan sớm nhất). Nhưng thực ra, đây đơn giản chỉ là niềm vui được là “người đầu tiên” - người đầu tiên đánh thức một thế giới đang im ngủ, người đầu tiên tóm được cái trở mình báo hiệu một ngày mới đang bắt đầu nơi công sở.
Cái nhìn lạ hoá này trở nên đặc biệt thú vị khi tác giả tả bức tranh của một em bé: “Heo màu đất còn trời màu hồng/ Móng mận chín và đuôi vòng số tám/ Gà màu vàng còn cánh màu xanh/ Hoa màu đỏ và ong màu tím biếc... Nếu có sông, sông sẽ êm đềm/ Cá sẽ lớn, sẽ bơi đầy mặt nước/ Nhà phải đủ vườn sau, cửa trước/ Lu đầy nước, với gáo gác ngang/ Ông mặt trời tỏa nắng chang chang...” (Bi vẽ tranh). Tư duy trực quan chưa bị khuôn vào yêu cầu phải mô phỏng “giống như thật” của đứa trẻ và cái nhìn lạ hóa của người làm thơ đã giao cắt với nhau trong mơ ước làm mới thế giới. Chỉ là tả lại một bức tranh, tả và tả, mà thế giới ở đây như được hoán cải, như được lột xác để hiện ra với dáng vẻ mới và sinh động lạ thường!
Trong Gửi VB, đối lập với, và ở đằng sau một con người luôn gắng phát hiện những điều mới mẻ từ thế giới xung quanh, là một con người khác, cô đơn và rất nhạy cảm. Cô đơn đến mức: “Quờ tay tìm viên thuốc/ Ba năm rồi không sợ đụng nhầm tay ai” (Ốm). Nhạy cảm đến mức: “Ước chết chìm trong làn nước nóng/ xà bông chểnh mảng không nổi bọt/ xát vào một vết cũng đau” (Ốm). Sự nhạy cảm khiến cho con người ở đây cất công tìm kiếm cảm giác trong cô đơn, và tiếc nuối khi bầu khí thích hợp nhất cho sự nhận biết nỗi cô đơn biến mất.
Vào một ngày lạnh nhất của mùa đông ở Hà Nội, sau khi đã thốt lên: “Sao phải chịu mùa đông lạnh nhất ở đây?/ Mặc nhiều áo tới nỗi xa lạ với da thịt của chính mình”, sau khi đã “nhớ lúc phong phanh áo mỏng rất gần tim”, tác giả lại khiến người đọc bất ngờ bởi tâm trạng: “Lại sợ rồi sẽ hết, những ngày này sẽ hết/ Hai tiếng nữa thôi, ngày lạnh nhất sẽ qua/ Buồn làm sao, chuyện gì rồi cũng thành ấm áp” (Ngày lạnh nhất ở Hà Nội). Nếu coi đây là mâu thuẫn, thì nó là mâu thuẫn xuất sinh từ hai cực: một phía là cái cảm nhận đời sống theo kiểu “người ta thường tình”, phía kia là nhu cầu được nếm trải đến chót cùng cảm giác, là sự không thỏa mãn với những cảm giác vui buồn “đủ độ”.
Cũng có trường hợp Vàng Anh phát hiện ra cảm giác của chính mình một cách rất tự nhiên. Ví như ở bài Danh sách chuyển nhà, tác giả đã đưa vào danh mục những món đồ cần phải đem theo: “Một lồng chim hàng xóm sáng nào cũng hót/ Tiếng rao bánh khúc không rõ lời/ Tia nắng đúng chín giờ vào lọt khe cửa sắt/ Chạm viên gạch số ba/ Từ ngoài đếm vào/ Từ trái đếm vào/ Từ ngoài đếm vào/ Từ trái đếm ra...” Đọc những câu thơ này, tôi chợt nhớ tới câu thơ nổi tiếng “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở...” của ông Chế - thi sĩ thân phụ của Vàng Anh. Vì không gì khác hơn, những đồ đạc đặc biệt ấy thể hiện cảm giác gắn bó giữa con người với không gian ở của mình. Cho dẫu là một không gian thuê mướn tạm bợ đi chăng nữa, thì nó cũng kịp làm hình thành ở người sống trong nó một vài thói quen, một vài phản xạ, và chỉ khi phải rời xa người ta mới biết có thể ở đó còn là một vài mảnh hồn người...
Ngay trong bài Danh sách chuyển nhà đã dẫn, một đặc điểm của thơ Vàng Anh đã bộc lộ. Nửa đầu bài thơ, tác giả liệt kê liên tiếp, rất chi tiết: hai cây cau, một bức tranh, một đèn chùm, hai nhà tắm, một đèn bàn, ba bình hoa (ở nhiều bài trong tập thơ này Vàng Anh tỏ ra mẫn cảm với những con số chính xác). Tất cả là sự chuẩn bị cho trọng tâm ngữ nghĩa ở cuối bài. Thao tác này lặp lại ở bài Đã đến Huyền Mi. Bình an. Sau khi liệt kê một loạt hoạt động “đã bỏ vali vào tủ”, “đã xin lễ tân phích nước”, “đã mở tung cửa và tắt đèn cởi áo nhìn xuống đường”... thì mới đến phần kết đầy sức nặng: “Giờ nằm im và ngửa cổ/ cho đầu thõng xuống cạnh giường/ để phòng nước mắt có chảy/ chầm chậm ngược dòng mà tuôn”.
Nói chung, hầu hết các bài trong cả tập Gửi VB đều thế, chìa khóa để mở ra thông điệp của bài thơ nằm ở những câu kết, cái bất ngờ dành cho người đọc cũng nằm ở những câu kết. Không khó khăn gì lắm để chúng ta có thể nhận thấy, thật ra đây là kiểu cấu trúc tác phẩm rất phổ biến ở truyện ngắn, đặc biệt là truyện ngắn cổ điển (thế nhưng thú vị ở chỗ, khi viết truyện ngắn, Vàng Anh lại không mấy quan tâm đến kiểu cấu trúc này). Có thể nói, trên phương diện ấy, Gửi VB là một thể nghiệm bước đầu thành công của việc “cấy” văn xuôi vào thơ, làm mờ đi nhòe đi ranh giới giữa trữ tình và tự sự.
Không lệ thuộc vào những khuôn khổ hình thức có sẵn của thơ. Không cầu kỳ đẽo câu gọt chữ. Không sa vào những triết luận cao siêu. Không hòa với sự tuôn trào lai láng của cái tôi nội cảm. Không chút hứng thú với việc khai thác những xung động mãnh liệt của thế giới bản năng... Gửi VB của Phan Thị Vàng Anh, dù chỉ với 21 bài mỏng mảnh, là tập thơ đã thuyết phục được người đọc - ít ra là đã thuyết phục được tôi - theo cách riêng của nó. Cất những bài thơ lên từ loại “vật liệu” hoàn toàn thuộc về đời sống thực tế, tác giả đã tìm kiếm được cho mình cảm giác của mình trước đời sống, qua đó đánh thức ở người đọc cái khả năng về một sự tìm kiếm tương tự. Phải chăng, đó lại không phải là một điều đáng nói?

Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận