
Lần đầu có quy định về chuẩn nghề nghiệp và chế độ làm việc với giáo viên trung học nghề - Ảnh: KHOA NGUYỄN
Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư 64 quy định mã số, chuẩn nghề nghiệp, bổ nhiệm, xếp lương và chế độ làm việc đối với giáo viên trung học nghề, có hiệu lực từ ngày 10-8.
Một giáo viên trung học nghề có thể đảm nhiệm hai phần chương trình
Theo Thông tư, giáo viên trung học nghề tham gia giảng dạy đồng thời phần kiến thức chương trình THPT và phần chuyên môn nghề trong cùng một năm học sẽ áp dụng định mức giờ chuẩn của phần có khối lượng giảng dạy thực tế nhiều hơn.
Trường hợp khối lượng giảng dạy bằng nhau, giáo viên áp dụng định mức giờ chuẩn của người dạy phần chuyên môn nghề.
Một giờ chuẩn giảng dạy phần kiến thức chương trình THPT được tính bằng một giờ chuẩn giảng dạy lý thuyết, thực hành hoặc tích hợp phần chuyên môn nghề. Một giờ chuẩn giảng dạy trực tuyến hoặc kết hợp trực tiếp với trực tuyến được tính bằng một giờ chuẩn giảng dạy trực tiếp.
Thời gian và định mức làm việc giữa hai nhóm giáo viên có sự khác nhau.
Giáo viên dạy phần kiến thức chương trình THPT làm việc 42 tuần trong một năm học, tương đương 1.680 giờ hành chính.
Trong đó, 37 tuần dành cho nhiệm vụ giảng dạy, gồm 35 tuần thực dạy và 2 tuần dự phòng, 5 tuần dành cho học tập, bồi dưỡng, dự giờ, trao đổi kinh nghiệm và các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ khác. Định mức giảng dạy là 595 giờ chuẩn/năm học.
Đối với giáo viên dạy phần chuyên môn nghề, thời gian làm việc là 44 tuần, tương đương 1.760 giờ hành chính.
Trong đó có 36 tuần thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và 8 tuần dành cho học tập, bồi dưỡng, hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cập nhật kỹ năng thực hành, tiếp cận công nghệ mới cùng các hoạt động chuyên môn khác. Định mức giảng dạy từ 400-510 giờ chuẩn/năm học.
Một giờ giảng bằng tiếng nước ngoài đối với môn học, mô đun không phải môn ngoại ngữ, nếu được thực hiện theo kế hoạch đào tạo, được tính bằng 1,5-2 giờ chuẩn.

Thí sinh làm thủ tục nhập học tại Trường cao đẳng Kinh tế TP.HCM - Ảnh: THANH THUYẾT
Ba hạng chức danh, mở rộng nguồn người có năng lực thực hành nghề
Một điểm mới quan trọng của Thông tư là lần đầu tiên xác định chức danh riêng cho giáo viên trung học nghề, gồm hạng III, hạng II và hạng I.
Cụ thể, giáo viên trung học nghề hạng III có mã số V.09.02.14; hạng II mã số V.09.02.13 và hạng I mã số V.09.02.12.
Về tiền lương, giáo viên hạng III có thể được áp dụng hệ số từ 2,10-4,89 đối với viên chức có trình độ cao đẳng hoặc năng lực thực hành nghề theo quy định hoặc từ 2,34-4,98 đối với viên chức có trình độ đại học trở lên.
Giáo viên hạng II áp dụng hệ số từ 4,00-6,38 còn hạng I từ 4,40-6,78.
Đáng chú ý, quy định mới cũng tạo cơ chế công nhận nhiều loại văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận phù hợp để đáp ứng tiêu chuẩn về năng lực thực hành nghề, phục vụ việc dạy thực hành môn học, mô đun thuộc phần chuyên môn nghề.
Trong số này có bằng kỹ sư, kiến trúc sư, một số bằng bác sĩ, dược sĩ, các danh hiệu Nghệ nhân ưu tú, Nghệ sĩ ưu tú, Thầy thuốc ưu tú, Nhà giáo ưu tú trở lên, chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia từ bậc 2 trở lên, chứng nhận bậc thợ 4/7 hoặc 3/6 trở lên cùng một số văn bằng, chứng chỉ nghề của Đức, Úc, Malaysia hoặc tương đương theo quy định pháp luật Việt Nam...
Tuy nhiên, giáo viên trung học nghề còn phải đáp ứng các tiêu chuẩn tương ứng về trình độ đào tạo, năng lực sư phạm, chuẩn nghề nghiệp và yêu cầu của vị trí việc làm.
Theo thông cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, cách tiếp cận này nhằm tạo điều kiện thu hút nhân lực có trình độ, kinh nghiệm thực tiễn từ nhiều lĩnh vực tham gia giáo dục nghề nghiệp, đồng thời xây dựng đội ngũ phù hợp với đặc thù chương trình trung học nghề "vừa giáo dục, vừa học nghề".
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận