Sau nhiều năm ngồi ghế “tư lệnh” ngành (năm 2007, Quốc hội sáp nhập Bộ Thủy sản vào Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn - NN&PTNT), ông Cao Đức Phát nhận thấy việc điều tra tài nguyên thủy sản đang diễn ra hết sức chắp vá vì kinh phí hoạt động quá ít. Bộ trưởng kể lại: “Chúng tôi có một con tàu để đi điều tra. Có lần tôi đốc thúc anh em ra biển thì suýt xảy ra đắm tàu vì nó cũ quá”.
Nhớ lại hồi đầu năm 2011, một cán bộ của Tổng cục Thủy sản thuộc Bộ NN&PTNT đã phấn khởi nói với báo chí: thủy sản đang là mặt hàng dẫn đầu về giá trị xuất khẩu của ngành nông nghiệp, năm 2010 kim ngạch đạt khoảng 5 tỉ USD, cao hơn gần 2 tỉ USD so với xuất khẩu gạo. Tuy nhiên câu chuyện từ Bộ trưởng Cao Đức Phát cho thấy mặc dù hằng năm đất nước thu về nhiều tỉ USD nhờ xuất khẩu thủy sản, nhưng việc đầu tư cho điều tra, nghiên cứu trong lĩnh vực này vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu.
Điều đáng quan ngại là thực tế trên có thể làm ảnh hưởng đến chất lượng hoạch định chính sách của cơ quan quản lý nhà nước về thủy sản, trong đó có những việc hết sức thiết thực đối với ngư dân như: đánh giá nguồn lợi thủy sản ở từng vùng biển; dự báo và công bố ngư trường cũng như xác định sản lượng khai thác cho phép hằng năm; xây dựng hệ thống thông tin quản lý khai thác, khuyến khích phát triển khai thác thủy sản xa bờ...
Bà Nguyễn Thị Hồng Minh (nguyên thứ trưởng Bộ Thủy sản) ví von ngư dân là thợ săn dưới nước, nhưng xưa nay thợ săn biển nước ta thường chỉ dựa vào kinh nghiệm cha truyền con nối, việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học cũng như áp dụng công nghệ hiện đại vào nghề cá trên biển rất hạn chế. Trong khi đó, để phát triển nghề cá, các nước thường đẩy mạnh điều tra thăm dò biển, dự báo khí tượng biển, dự báo hải sản, dự báo bãi cá và sản lượng... nhằm phục vụ việc quản lý cũng như hỗ trợ ngư dân. Rõ ràng nếu muốn trở thành chỗ dựa tốt hơn nữa của ngư dân, cơ quan chức năng của nước ta phải có trong tay nhiều hơn là một con tàu cũ kỹ.
Nhìn rộng ra, bên cạnh “điều ước” nêu trên, còn nhiều “điều ước” khác cho ngành thủy sản Việt Nam hiện nay như xây dựng lực lượng kiểm ngư, đào tạo kỹ sư khai thác thủy sản... Trong cuộc họp báo vào đầu tháng 6 này, ông Cao Đức Phát đã nêu lên một thực tế là “trang thiết bị cho tàu kiểm ngư đi ra ngoài khơi chịu được sóng gió cấp 7, cấp 8 hiện nay rất ít, chủ yếu là tàu nhỏ đi ven bờ”. Theo bà Nguyễn Thị Hồng Minh, kỹ sư khai thác thủy sản ở các nước phải có ít nhất 1/3 đến 1/2 thời gian học thực tế trên biển, trong khi ở nước ta tình trạng “học cạn” (học trên bờ), học trên giấy không phải hiếm.
Được biết, Thủ tướng và phó thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến ủng hộ các đề nghị (về xây dựng lực lượng kiểm ngư và điều tra tài nguyên thủy sản) của Bộ NN&PTNT, đây chính là cơ sở để biến “điều ước” thành hiện thực. Không một quốc gia nào có thể mạnh về biển, làm giàu từ biển mà năng lực nghiên cứu, năng lực quản lý của cơ quan chức năng chỉ đủ loanh quanh ven bờ. Đầu tư mạnh mẽ hơn nữa cho ngành thủy sản chính là đầu tư cho tương lai, bởi việc khai thác các tài nguyên khác trên biển ví dụ như dầu khí rồi cũng đến lúc cạn kiệt.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận