20/10/2010 11:42 GMT+7

Điều răn thứ năm: Tiến sát vạch phạm quy

DONALD R.KEOUGH
DONALD R.KEOUGH

TTO - Khi tôi lên ba tuổi, căn nhà của chúng tôi bị cháy trụi. Gia đình tôi hầu như mất hết tất cả. Chúng tôi phải tìm một chỗ khác để ở và rồi Đại khủng hoảng ập đến.

GlCLAbqq.jpgPhóng to

Ở đó, cha tôi kiếm được một việc làm trong một trại gia súc địa phương, một trung tâm mua bán gia súc lớn. Ông có một khả năng kỳ lạ trong việc đánh giá và định giá gia súc một cách nhanh chóng.

Về cơ bản, Leo có thể đánh cược với bất kỳ ai bằng một chiếc mũ Stetson rằng ông có thể nhìn vào một bãi nhốt khoảng 50 con gia súc và có thể đánh giá được trọng lượng bình quân của chúng với độ sai lệch chỉ trong 10 pound. Khi đó tôi còn là thiếu niên và vào mùa hè, tôi làm việc giúp cha tôi nhưng tôi chưa bao giờ thấy một ai thắng ông trong những vụ cá cược đó. Tôi cũng đã cho rằng cha tôi không bao giờ thua cuộc cả.

Nhưng cha tôi có một thứ còn giá trị hơn cả cặp mắt tinh tường của ông. Trong kinh doanh, nơi vốn có quá nhiều những kẻ quỷ quyệt, lừa đảo, cha tôi lại cực kỳ nổi tiếng là một người ra giá đúng.

Những người chủ trại chăn nuôi gia súc từ phía tây Nebraska và Wyoming và Nam Dakota đầu tư toàn bộ gia sản và bỏ ra hàng tháng trời, thường là trong điều kiện thời tiết cực kỳ xấu, để chăn nuôi đàn gia súc của họ, sau đó đưa chúng lên tàu và nói với cha tôi với một cách hết sức đơn giản: “Leo, hãy trả cho chúng tôi mức giá tốt nhất có thể”.

Họ hoàn toàn tin tưởng ở cha tôi. Và đó là phẩm chất mà tôi rất muốn phấn đấu có được: được tin tưởng. Không phải được người ta sợ. Không phải được yêu thương. Mà là được tin tưởng - rằng bạn là người thẳng thắn và trung thực với mọi người, rằng bạn công bằng và bạn luôn làm những điều đúng đắn.

Nếu bạn kinh doanh ở sát vạch phạm quy, bạn sẽ không có được nhiều lòng tin từ khách hàng cũng như từ nhân viên của bạn. Và bạn sẽ thất bại.

“Thành công sẽ lâu bền hơn nếu bạn đạt được nó mà không làm hủy hoại những nguyên tắc của bạn”.

Walter Cronkite

Ở phần trước, tôi đã nói đến vai trò của sự tin tưởng trong việc Robert Woodruff xây dựng sự nghiệp kinh doanh toàn cầu của Coca-Cola. Ngày đó, và kể cả bây giờ, lòng tin đã trở thành nền tảng cho mọi công việc kinh doanh. Bất chấp những cải tiến công nghệ, những xu hướng quản trị và marketing mới, cuối cùng, tất cả các công việc kinh doanh chung quy lại cũng chỉ là vấn đề về lòng tin - người tiêu dùng tin tưởng rằng sản phẩm sẽ đem lại những giá trị mà nó phải thực hiện - nhà đầu tư tin rằng ban quản lý có đủ năng lực - nhân viên tin rằng ban giám đốc sẽ thực hiện các nghĩa vụ của họ.

Trong những năm gần đây, có vẻ như chúng ta chứng kiến khá nhiều trường hợp mà những người năng nổ, thông minh lại không ý thức rõ ràng đâu là đúng đâu là sai khi làm việc.

Kmart và Wal-Mart được thành lập vào cùng năm 1962. Tuy nhiên, Kmart đi theo một con đường đầy nguy hiểm và cuối cùng bị phá sản năm 2002. Trong suốt thời gian đó, có nhiều lời bàn tán và tuyên bố về tham nhũng và tự doanh trong một bộ phận chuyên viên cấp cao của công ty. Trên thực tế, một chuyên viên cấp cao về bất động sản của công ty đã từng bị kết án về tội hối lộ. Sự thực là họ đã làm việc ngay gần vạch phạm quy và trong một số trường hợp, tòa án đã kết luận rằng họ vượt qua vạch phạm quy đó.

Một trong số các lý do khiến tham nhũng ngày càng trở nên phổ biến là do toàn bộ môi trường xã hội của chúng ta trở nên ít trách nhiệm công dân hơn và ngày càng khoan dung hơn với những hành vi xấu. Cựu thượng nghị sĩ Daniel Patrick Moynihan đã từng coi nó là sự suy thoái theo xu hướng đã được định sẵn.

Năm 1969, Philip Zimbardo, một nhà tâm lý học ở Stanford đã thực hiện một thí nghiệm nổi tiếng. Hai chiếc xe không mui và không biển số đăng ký được bỏ lại, một chiếc ở Bronx, New York và một chiếc ở Palo Alto, California. Chiếc xe ở Bronx gần như ngay lập tức bị tháo dỡ và trở thành rác.

Ở Palo Alto, mọi chuyện diễn ra theo một cách khác hẳn. Đầu tiên là không có gì thay đổi. Chiếc xe được để nguyên, không ai đụng đến trong suốt hơn một tuần. Rồi một ngày sau đó, chính nhà tâm lý học này cầm một cái búa tạ đến và bắt đầu phá cái xe.

Ngay sau đó, những người qua đường thay nhau dùng búa phá cái xe cho đến lúc nó hoàn toàn bị phá hủy. Cuộc thí nghiệm đó đã dẫn đến một lý thuyết về tội phạm “phá hoại cửa sổ” - ý tưởng chính của lý thuyết này là nếu một chiếc cửa sổ bị vỡ của một tòa nhà không được sửa chữa, thì những kẻ phá hoại sẽ nhanh chóng phá nốt phần còn lại của cửa sổ.

Lý thuyết này nói: “Không ai quan tâm đâu. Hãy phá cửa sổ và nếu bạn vẫn không gặp phải rắc rối nào cả thì hãy phá thêm nhiều cái nữa. Mọi chuyện sẽ vẫn ổn thôi”.

Ở một mức độ nào đó, mội trường kinh doanh một vài năm trước có một số phận tương tự. Những vi phạm về đạo đức nho nhỏ được bỏ qua.

Một lý do nữa khiến tham nhũng trở nên phổ biến là chúng ta bắt đầu bỏ ra một khoảng thời gian bất thường để chu cấp, phụng sự cho những người bạn quý báu có khả năng tạo nên “thị trường” - những nhà phân tích của tờ báo Wall Street.

Trong hầu như suốt 120 năm kinh doanh, công ty Coca-Cola hầu như không có quan hệ gì với Wall Street. Những báo cáo thường niên hoành tráng mà công ty phát hành chỉ bao gồm tám trang giấy mỏng in mực đen và không có một bức tranh nào. Quan điểm của công ty là: “Điều bạn muốn biết đã có ở trong đó. Hãy đọc nó”.

Những người lãnh đạo của công ty hiếm khi nói chuyện trước công chúng. Bộ phận quan hệ công chúng của công ty được trả tiền để giữ cho những tên tuổi của các những nhà quản lý không bị đưa lên mặt báo. Chính sản phẩm, chứ không phải CEO hay CFO, mới là tinh túy, là siêu sao.

Tuy nhiên, dần dần, đối với Coca-Cola và hầu như đối với tất cả mọi công ty, báo cáo thường niên có một ý nghĩa hoàn toàn mới. Nó trở thành một phương tiện quan hệ công chúng. Nó không còn chỉ đơn thuần ghi chép lại những việc mà công ty đã và đang làm.

Ngày nay, báo cáo thường niên của hầu hết các công ty đều gồm những trang giấy đủ sắc màu, mô tả những con người ở mọi cấp độ, tín ngưỡng và văn hóa cộng thêm một bức tranh trải dài suốt hai trang giấy hình ảnh của khu rừng nguyên sinh ở Maine (vốn không bị phá đi để sản xuất giấy in báo cáo này). Ở một vài chỗ nào đó trong bức tranh màu xanh đẹp đẽ này, bạn sẽ tìm thấy những con số báo cáo.

Năm 1982 là năm khởi đầu một thời kỳ bùng nổ của thị trường chứng khoán lâu dài nhất trong lịch sử. Và loại trừ một thời gian suy giảm tạm thời năm 1987, sự bùng nổ này đã kéo dài đến 18 năm. Trong thời gian đó, nhiều công ty bắt đầu để các nhà phân tích tài chính tiến đến sân, vào nhà, vào bếp và cuối cùng là vào đến tận phòng khách nhà mình. Rồi cuối cùng, một ngày nọ, họ thức giấc và nhìn thấy những nhà phân tích này ở ngay trong phòng ngủ.

Họ không ở đó để phân tích công ty đang hoạt động như thế nào. Họ ở đó để rỉ tai những điều tốt đẹp, gợi ý cho những nhà lãnh đạo công ty nên làm những việc gì.

Trước thời kỳ đó, giám đốc tài chính không được đánh giá dựa trên cơ sở sự sáng tạo của họ. Họ thông minh, cứng rắn và thường rất thẳng thắn. Trách nhiệm cơ bản của họ là kiểm tra từng đồng đô la được thu vào và chi ra xem chúng có thực không. Nếu họ làm việc với những đồng xu bằng vàng, chắc có lẽ họ đã cắn thử. Nhiệm vụ của họ không phải là để mang đến những tin tốt. CFO là những người nói sự thật. Họ không đánh bóng một thứ gì. Bạn có thể luôn luôn tin tưởng rằng một CFO sẽ nói với CEO sự thật thẳng thắn, cái tốt, cái xấu hay điều khác biệt.

Nhưng khi thị trường chứng khoán bùng nổ - và những doanh nhân để những tay phân tích tài chính vào đến tận phòng ngủ - thì dần dần nhưng chắc chắn rằng các CFO đã trở thành một bộ phận kiếm lời - profit center, và là một bộ phận kiếm lời quan trọng. Một vài vị CEO cáu kỉnh sẽ nói: “Tôi cần thêm 5 cent nữa trong quý này. Hãy kiếm đi!”.

Thời gian trôi qua, thay vì trở thành người bảo vệ cho sự minh bạch và sự trung thực về tài chính trong doanh nghiệp, nhiều nhà CFO đã trở thành siêu sao trong kinh doanh, và những người nổi tiếng trên đường phố chính là những nhà phân tích tài chính - những người mà nhân đó cũng trở nên ngày càng quan trọng hơn đối với sức mạnh kinh tế của những ngân hàng đầu tư.

Với việc hầu như mọi công ty đại chúng đều nói chuyện trên Wall Street suốt ngày, một nhu cầu không đổi về những kết quả ngắn hạn đã phát sinh. Nhu cầu đó lớn đến mức áp lực để đạt được những kết quả ngắn hạn trở thành điều không thể tránh được.

Một số người lãnh đạo công ty nhận thấy rằng họ không còn hỏi câu “Việc đó có đúng không?” nữa mà thay vào đó là câu “Việc đó có hợp pháp không?”. Và từ đó, chỉ một bước tiến nhỏ nữa thôi là sẽ đến lúc họ hỏi: “Chúng ta có thể thoát tội nếu làm việc đó hay không?”.

Kết cục của câu chuyện đối với những công ty này thực sự là bi kịch. Người ta xuyên tạc số liệu và giả mạo các bút toán để che giấu các khoản nợ, thổi phồng thu nhập và trốn thuế - hoặc vì cả ba mục đích.

Với những ai tham gia vào quá trình này, kết quả cuối cùng là hết sức tồi tệ và thậm chí có người đã phải vào tù. Với một số CEO và CFO, dường như họ được miễn trừ trong quản trị, không bị ảnh hưởng bởi những trách nhiệm đạo đức và luật pháp vốn gắn kết và ràng buộc cả xã hội. Ngay cả sau khi Công ty Adelphia trở thành công ty đại chúng, John Rigas và các con trai của ông ta vẫn điều hành công ty như thể đó là một kho tài sản gia đình.

Những công ty nhiều tham vọng như Enron và Tyco đều gặp rắc rối, tuy nhiên họ lại có những CEO và CFO hành động mà không quan tâm gì đến những người sở hữu hay nhân viên của công ty.

Trong khi đại đa số các tập đoàn hoạt động theo luật và không làm theo điều răn thứ năm này, vẫn có một số công ty khác hoạt động ngay ranh giới phạm luật và thỉnh thoảng họ đã vi phạm. Đã có nhiều công ty phạm luật như Adelphia và World Com.

Và, thật không may, những hoạt động phi pháp của các công ty này đã được báo chí phanh phui và đưa tin nhiều đến mức nó làm ô uế cả danh tiếng của toàn ngành. Vô số những bức ảnh về những doanh nhân làm ăn phi pháp tổ chức các bữa tiệc thịnh soạn và nhảy vọt lên vị trí thượng lưu, cao quý và giàu có; làm đau lòng tất cả chúng ta.

Một phần khác của vấn đề nằm ở sự ám ảnh được nổi tiếng. Đó là mặt bệnh hoạn nhất của cuộc sống hiện đại. Máy quay phim luôn luôn mở sẵn và trong thế giới truyền thông 24/24, những phát thanh viên chuyên nghiệp luôn luôn tìm kiếm một người nào đó mới mẻ để phỏng vấn. Một số chuyên viên cấp cao thì luôn luôn sẵn lòng. Để có hình trên trang nhất của một tạp chí, họ phải làm rất nhiều thứ, bỏ ra cả gia tài để tổ chức những bữa tiệc hoang phí và xây những căn nhà thật phô trương, hào nhoáng.

Khi bạn trở nên hơi quan trọng một chút, bạn hãy cẩn thận - những các tác giả sẽ tâng bốc bạn lên tận mây xanh và phú cho bạn sự hấp dẫn và thông minh hơn mức mà bạn xứng đáng, hoặc họ sẽ làm cho bạn trở nên xấu xa hơn cả Scrooge. Ngay sau khi tôi được bầu làm Chủ tịch của Công ty Coca-Cola, tôi trở thành tâm điểm của một số bài báo về kinh doanh. Tôi hầu như không nhận ra mình ở đó. Tôi, hoặc là một hiệp sĩ đến để giúp điều hành công ty, hoặc là một hiện thân sinh động của nguyên tắc Peter nổi tiếng, được bổ nhiệm một chức vụ vượt quá năng lực của mình.

Ở miền Midwest quê tôi, những chủ trang trại giàu có nhất cũng cố tình ẩn mình, điều đó giúp bạn đỡ bị “phổng mũi” trước những lời tâng bốc.

Mọi người đều thích được người khác biết đến, tuy nhiên mỗi người đều phải cẩn thận để không bị quyến rũ bởi việc sùng bái cá nhân và bị xúi giục bước qua lằn ranh đạo đức.

“Nhà quản lý làm mọi việc một cách đúng đắnNhà lãnh đạo làm những việc đúng đắn”

Khuyết danh

Sau mỗi sự bùng nổ về những vụ tai tiếng trong kinh doanh ở đất nước này, có vẻ như chúng ta lại tạo ra những luật lệ mới.

Cố gắng đầu tiên để kiểm soát việc mua bán trái phiếu và cổ phiếu ra đời ngay sau thảm họa năm 1792, khơi mào bằng một vụ đầu cơ vô đạo đức của William Duer, thứ trưởng Tài chính. Alexander Hamilton, Bộ trưởng Tài chính đầu tiên của nước Mỹ là một người cực kỳ trung thực.

Tuy nhiên, đồng nghiệp của ông, Duer đã “được lưu danh vào lịch sử” với tai tiếng là người đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ giao dịch nội gián. Những hành động bất chính của ông ta đã khiến những nhà đấu thầu và những người chơi chứng khoán thời đó phải chuyển địa điểm giao dịch từ những quán cà phê hay lề đường đến một trung tâm cố định và thường xuyên hơn (sau này chính là Sở giao dịch chứng khoán New York), nơi các giao dịch có thể được kiểm soát, ghi chép và lưu trữ tốt hơn.

Những vụ bê bối của chính quyền Ulyssé S. Grant cùng với việc thao túng thị trường bởi một số ông trùm ở cuối thế kỷ 19 đã làm phát sinh thêm nhiều luật lệ mới và luật chống độc quyền. Thêm một số luật nữa được thông qua sau vụ bê bối Teapot Dome thời tổng thống Harding vào đầu những năm 1920 và nhiều hơn luật hơn nữa được thông qua sau những vụ phá sản khủng khiếp năm 1929. Nhiều luật lệ mới vẫn tiếp tục được ban hành nhằm cố gắng kiểm soát việc ra giá, thao túng nghiệp vụ đấu thầu và cạnh tranh không hoàn hảo.

Chúng ta không bao giờ có thể thông qua đủ luật lệ để có thể khiến con người trở nên sống có đạo đức. Chúng ta đã có những cuốn sách trong đó có khoảng hai mươi mốt ngàn trang luật Liên bang cộng với quy chế của Ủy ban Chứng khoán và giao dịch và của Sàn chứng khoán New York ở thời điểm mà vụ bê bối của Công ty Enron xảy ra.

Luật chống lừa đảo rất rõ ràng, tuy nhiên ở thời điểm mà người ta sắp nhận thấy thị trường cho vay thế chấp lâm vào khó khăn vào mùa hè năm 2007, vẫn có rất nhiều trang Web mà trên đó, bạn có thể lấy được giấy chứng minh giả, thậm chí là hóa đơn giả để có thể thế chấp vay tiền từ các ngân hàng và các nhân viên cho vay chắc chắn đã biết rằng những mánh khóe đó không phải chỉ có khả năng xảy ra mà nó hầu như chắc chắn xảy ra. Khủng hoảng cho vay dưới chuẩn (subprime crisis) là hậu quả của việc đánh giá kém và đôi khi đi kèm là những hành vi phạm tội.

Hôm nay, khi tôi ngồi viết những dòng này, bất chấp việc luật lệ bây giờ nghiêm khắc hơn (có thể có người cho là quá nghiêm khắc) và bất chấp sự căm phẫn của công chúng đối với mức lương thưởng quá cao cho những nhà lãnh đạo và những hành động quản lý đáng ngờ, chúng ta vẫn nghe tin về những nhà lãnh đạo doanh nghiệp tiến sát vạch phạm quy.

Tôi khó có thể hiểu được quan điểm làm việc này của họ. Tất cả những gì mà tôi có thể kết luận là những nhà lãnh đạo này đã và đang quá xa cách (xem điều răn thứ 4) đến mức họ hoàn toàn không có ý niệm về những khiếm khuyết của loài người mà tất cả chúng ta cùng chia sẻ - trong đó có cả những khiếm khuyết của chính họ.

Khi còn phục vụ trong hải quân, ở thời điểm gần kết thúc Chiến tranh thế giới II, tôi được giao làm nhiệm vụ đến một bệnh viện làm quản lý những bệnh nhân bị thương nặng nhất: những người bị mất một bộ phận cơ thể, những người mù, người điếc, và những người bị chấn thương ở cấp độ nặng đến mức không nói được nữa.

Báo cáo phục vụ quân đội của tôi chắc hẳn đã có nói điều gì đó về khả năng diễn thuyết của tôi khi còn học ở trường trung học, bởi vì tôi được đưa đến làm việc ở trung tâm phục hồi thính giác và làm việc với những người bị khuyết tật trong chuyện nói năng. Tôi hoàn toàn không đủ am hiểu để làm việc đó, nhưng tôi học được một số kỹ thuật từ một bác sĩ chuyên khoa thực sự trong bệnh viện và cùng chúng tôi cùng nhau ứng biến và đã đạt được một kết quả khá tốt về tỉ lệ bệnh nhân phục hồi chức năng nói.

Giữa các bệnh nhân hoàn toàn không có sự phân biệt đối xử. Một binh nhì và một sĩ quan được đối xử giống nhau. Trong quá trình phục hồi, các binh nhì tự chiến đấu để đạt được mức độ phục hồi tốt nhất, tuy nhiên những sĩ quan, những người không bao giờ nghi ngờ về khả năng của họ, thì lại bị suy yếu bởi cái bóng ngày xưa nay đã vỡ của mình, trở nên hết sức tuyệt vọng.

Kinh nghiệm của tôi ở bệnh viện đó đã làm tôi nhận thức một cách sâu sắc từ khi còn rất trẻ về cả sự cao quý và sự yếu đuối của con người. Khoảng cách giữa hai cái đó không phải là lớn. Mọi người có thể vươn lên để làm được những điều phi thường. Và họ có thể rơi xuống rất xa và rất nhanh.

Một bệnh viện, nhất là một bệnh viện quân đội có nhiều người bị thương rất nặng, có xu hướng tập trung vào sự tương đồng của chúng ta thay vì sự khác biệt, tập trung vào những nhu cầu chung và sự yếu đuối, dễ tổn thương của chúng ta. Ai cũng là người trần mắt thịt cả thôi, và vết thương nào cũng làm chúng ta chảy máu.

Những thầy tu dòng Tên và nhà cổ sinh vật học xuất chúng Teilhard de Chardin đã viết rằng “không có tương lai tiến bộ nào chờ đón một người trừ khi nó kết hợp với tương lai của tất cả những người khác”.

Tôi đồng ý với quan điểm này. Vì vậy, việc đối xử với những người xung quanh chúng ta với sự đồng cảm và tôn trọng không chỉ là một nhiệm vụ mà còn là một điều thiết yếu để cùng tồn tại. Những người vô đạo đức có thể sẽ hưng thịnh trong một thời kỳ, đôi khi là một thời kỳ dài, nhưng cuối cùng, sự vô đạo đức và thiếu khiêm nhường của họ sẽ hủy hoại chính họ. Bạn không thể xây dựng một doanh nghiệp vững mạnh và trường tồn trên một nền tảng thối rữa, suy đồi về đạo đức.

Tôi còn nhớ rất rõ vào những năm 1970, khi NBC chiếu một chương trình phim tài liệu về hoàn cảnh cực khổ của những người lao động nhập cư. Chúng tôi hoàn toàn kinh hoàng khi nhìn thấy rất nhiều người, được thuê bởi một nhà thầu lao động thứ ba (third-party labor contractor), đang làm việc ở một khu rừng nhỏ thuộc công ty Minute Maid của chúng tôi ở Florida, sống trong điều kiện sống kinh khủng. Lúc đó, Paul Astin, CEO của chúng tôi đã cử chủ tịch Luke Smitth và một vài người khác gồm cả tôi, xuống tận nơi để điều tra.

Điều kiện làm việc ở nhiều nơi thực sự tệ hại. Austin đã làm việc đó trước khi Ủy ban Thượng viện xuống điều tra, và khi được thông báo về tình trạng lao động của công nhân, ông không chỉ thừa nhận điều này mà còn nói với họ: “Thưa các ngài thượng nghị sỹ, điều kiện sống và làm việc của nhân viên không chỉ tồi tệ như các ông nói - mà còn tồi tệ hơn mức các ông có thể tưởng tượng. Với lương tâm của mình, công ty Coca-Cola không thể khoan dung trước tình hình này được. Chúng tôi sẽ cố gắng hết sức mình để giải quyết vấn đề này”.

Và chúng tôi đã làm. Dựa trên những điều khám phá ra, chúng tôi đưa ra một kế hoạch năng cấp toàn bộ mức sống của công nhân. Hành động bản năng đầu tiên của chúng tôi là phải làm sao để cung cấp cho nhân viên những vật chất cụ thể như một căn nhà tốt hơn, một phương tiện tốt hơn để đi vào rừng, găng tay để hái quả, nước đá để uống trong rừng, và những tiện nghi khác. Những ngôi nhà cũ bị san phẳng. Suy nghĩ tiếp theo của chúng tôi là chỉ những khoản phúc lợi đơn giản thôi thì không đủ.

Theo đó, chúng tôi đã gửi một đội những nhà khoa học nghiên cứu môn khoa học hành vi tới Florida để lập kế hoạch về một chương trình toàn diện có thể giải quyết được những vấn đề cơ bản về con người. Và theo kết quả nghiên cứu của họ, công ty đã mở ra một phòng khám chữa bệnh và lập một trung tâm dịch vụ xã hội cung cấp dịch vụ chăm sóc trẻ em, giáo dục mầm non, và giáo dục cả người lớn. Thêm vào đó, chúng tôi tăng lương và tăng bảo hiểm cho nhân viên. Chúng tôi cũng đã cho thành lập những tổ chức tập thể do công nhân đứng đầu.

Công đoàn của công nhân đến làm việc và bất chấp những sự bức xúc ban đầu, chúng tôi đã giải quyết vấn đề một cách thân thiện. Vì thế, cho đến khi hầu hết các khu rừng của chúng tôi được bán hoặc chuyển nhượng cho người khác, quan hệ của chúng tôi với công nhân nhập cư vẫn rất tốt đẹp.

Như Austin đã nói, chúng tôi không thể, vì lương tâm mình, chấp nhận tình huống tệ hại của công nhân nhập cư. Đó không chỉ là làm công tác quần chúng hay một đợt PR bình thường. Đó là điều đúng đắn phải làm.

Để duy trì niềm tin của công chúng vào hệ thống tư bản chủ nghĩa của chúng ta, nó cần được điều hành bởi những người trọng danh dự và đứng đắn. Tôi thực sự băn khoăn với nghiên cứu của Rutger nói rằng trong số tất cả những sinh viên đã tốt nghiệp, sinh viên MBA là những sinh viên gian lận nhiều nhất. Gần đây, người ta đã thông báo rằng có một số chương trình MBA bắt đầu quan tâm đến vấn đề đạo đức và tổ chức các môn học với tiêu đề “đạo đức kinh doanh”.

Tôi hi vọng họ thành công. Tuy nhiên, những môn học đó được dạy bởi những cán bộ giảng dạy hoàn toàn không có một kinh nghiệm thực tế nào trong kinh doanh, cho nên những cố gắng của họ sẽ không hiệu quả. Thế giới thực là nơi mà bạn phải quyết định những vấn đề liên quan đến đạo đức mỗi ngày.

Tất nhiên cha tôi không cần đến những môn học đạo đức như vậy. Ông được nuôi dưỡng bởi những giá trị của vùng Midwest rằng một điều bạn nói ra là một cam kết, một cái bắt tay cũng giống như một hợp đồng được ký trước sự chứng kiến của luật sư. Cha tôi có lẽ rất đồng ý với Peter Drucker rằng không có gì quan trọng hơn đạo đức kinh doanh. Chỉ có đạo đức. Nó không tách biệt khỏi những điều khác trong cuộc sống của bạn. Nếu bạn có một tập hợp những quy tắc xử thế và nhưng giá trị sử dụng cho nhiều tình huống khác nhau, bạn không phải là một doanh nhân. Bạn là Tony Soprano.

Cha tôi thường nói rằng ông ngủ rất ngon. Tôi cho rằng câu ngạn ngữ cổ sau đây là đúng: “Một lương tâm thanh thản sẽ ngủ yên ngay cả dưới tiếng sấm”.

DONALD R.KEOUGH
Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất