10/09/2010 10:14 GMT+7

Đêm thứ tư (tt)

ARAVIND ADIGA
ARAVIND ADIGA

TTO - Cá nhân tôi không thích căn hộ lắm - cả một căn chỉ to bằng cái nhà bếp ở Dhanbad. Trong nhà có một bộ ghế sofa trắng êm ái, trên bức tường phía trên bộ sofa có một bức ảnh to đóng khung của Cuddles và Puddles. Lão Cò không cho chúng theo chúng tôi lên thành phố.

iaw7rs3y.jpgPhóng to
TTO - Cá nhân tôi không thích căn hộ lắm - cả một căn chỉ to bằng cái nhà bếp ở Dhanbad. Trong nhà có một bộ ghế sofa trắng êm ái, trên bức tường phía trên bộ sofa có một bức ảnh to đóng khung của Cuddles và Puddles. Lão Cò không cho chúng theo chúng tôi lên thành phố.

Tôi không chịu đựng nổi khi nhìn thấy những con vật ấy, ngay cả trong ảnh, vì thế tôi dán mắt xuống thảm suốt thời gian ở trong phòng - như thế còn có thêm một cái lợi là làm cho tôi trong có vẻ giống một đầy tớ thứ thiệt.

“Cứ để túi đâu cũng được, Balram.”

“Không. Để chúng xuống cạnh bàn ấy. Để ngay đấy,” Cầy Mangut nói.

Sau khi đặt túi xuống, tôi đi vào nhà bếp để xem có cần lau dọn gì không - có một đầy tớ quán xuyến việc coi sóc căn hộ, nhưng tay này quá ư cẩu thả, vả lại như tôi đã nói, họ thực ra không có “tài xế”, mà chỉ là một đầy tớ thỉnh thoảng lái xe. Tôi biết không cần đợi bảo cũng phải coi sóc căn hộ. Có gì cần lau dọn thì tôi phải làm, rồi quay ra chờ gần cửa, hai tay khoanh lại cho đến khi Ngài Mukesh nói, “Mày đi được rồi. Nhớ đến lúc 8 giờ sáng. Đừng có mà lên thành phố rồi kiếm chuyện nọ kia, hiểu chứ?”

Sau đó tôi đi thang máy xuống, ra khỏi tòa nhà, đi thang bộ xuống khu nhà của đầy tớ trong tầng hầm.

Tôi không rõ các tòa nhà ở nước ngài được thiết kế như thế nào, nhưng ở Ấn Độ mỗi dãy chung cư, mỗi căn nhà, mỗi khách sạn đều được xây kèm một khu cho đầy tớ - đôi khi nằm phía sau, và đôi khi (như trong trường hợp của Cao ốc Buckingham Dãy B) dưới hầm - đó là một dãy các phòng thông nhau, nơi toàn thể tài xế, thợ nấu ăn, lao công, giúp việc và đầu bếp của dãy chung cư có thể ngả lưng, chợp mắt và chờ đợi.

Khi chủ có việc cần gọi, một chiếc chuông điện sẽ réo inh ỏi khắp khu nhà - chúng tôi sẽ chạy bổ ra một tấm bảng để tìm ánh đèn đỏ nhấp nháy cạnh con số của căn hộ mà người đầy tớ đang được triệu tập trên lầu.

Tôi đi xuống hai dãy cầu thang rồi đẩy cửa bước vào khu nhà của đầy tớ. Khi tôi vừa đến, đám đầy tớ hét toáng lên - bọn chúng thi nhau la ó, cười rú.

Tay tài xế môi bạch biến đang ngồi với bọn chúng, rú to nhất. Hắn vừa kể lại câu hỏi mà tôi hỏi hắn. Bọn chúng không làm sao hết buồn cười; từng đứa một đến chỗ tôi, xộc ngón tay vào tóc tôi, gọi tôi là “thằng ngốc nhà quê”, còn vỗ vào lưng tôi nữa. Đầy tớ có nhu cầu bắt nạt đầy tớ khác. Nó đã ngấm vào chúng tôi, như giống chó béc giê có bản năng tấn công người lạ. Chúng tôi tấn công bất kì ai mình quen biết.

Có đôi lúc tôi tự hứa với lòng không bao giờ kể cho ai ở Delhi bất cứ điều gì tôi nghĩ trong đầu nữa. Đặc biệt là không kể cho một đứa đầy tớ khác. Bọn chúng trêu chọc tôi suốt cả tối, cho đến khi mọi người đều đã đến phòng ngủ tập thể vẫn chưa chịu thôi. Có cái gì đó về mặt mũi răng miệng tôi, tôi cũng chả biết, làm cho bọn chúng lên cơn. Thậm chí chúng còn trêu tôi vì bộ đồng phục nữa. Chúng bảo tôi trông giống hệt con khỉ khi mặc bộ đồng phục ấy. Vì vậy tôi phải thay bằng quần tây áo sơ mi lem luốc như bọn chúng, nhưng những lời cười cợt không ngớt suốt đêm dài.

Có một người đàn ông quét dọn phòng ngủ, sáng hôm sau tôi hỏi ông ta, “Ở đây có chỗ nào người ta được yên tĩnh một mình không?”

“Có một căn phòng trống ở mé bên kia của khu nhà, nhưng không ai muốn ở đó,” ông ta đáp. “Ai mà muốn sống một mình chứ?”

Căn phòng này thật khinh khủng. Sàn nhà còn xây dang dở, có một tấm thạch cao trắng rẻ tiền trên tường in đầy dấu tay của người đã treo nó lên. Có một chiếc giường ọp ẹp nhỏ xíu, chỉ vừa đủ rộng cho một đứa thậm chí gầy gò như tôi, phía trên giăng một chiếc màn ngăn muỗi. Thế được rồi.

Đêm thứ hai, tôi không ngủ trong phòng ngủ tập thể - mà đi đến căn phòng đó. Tôi quét nhà, buộc màn vào bốn chiếc đinh đóng trên tường, rồi đánh một giấc. Đến giữa đêm tôi mới hiểu vì sao chiếc màn được để lại đó. Tiếng ồn đánh thức tôi. Bức tường tràn ngập gián, chúng đến ăn khoáng chất hoặc vôi vữa trên tấm thạch cao; tiếng nhai của chúng tạo ra âm thanh rào rào, những cặp râu run rẩy ngo ngoe từ mọi điểm trên bức tường.

Một vài con đáp lên nóc màn; từ bên trong, tôi có thể trông thấy thân hình đen ngòm của chúng nổi bật trên lớp vải màn trắng. Tôi gấp vải màn lại, nghiền nát một con gián. Những con khác chẳng màng bận tâm; chúng cứ thay nhau sà xuống màn - để rồi bị nghiền nát. Có lẽ mọi người sống trong thành phố đều trở nên chậm chạp và đần độn thế này, tôi nghĩ, mỉm cười, và nhắm mắt ngủ.

“Tối qua ngủ với gián vui không?” bọn chúng cười nhạo tôi khi tôi đến nhà vệ sinh tập thể.

Mọi ý nghĩ tôi từng có về việc quay lại phòng ngủ tập thể chấm dứt ở đó. Căn phòng đầy gián, nhưng nó là của tôi, và không có ai cười nhạo tôi cả. Chỉ có một điều bất tiện là tiếng chuông điện không lọt vào phòng này - nhưng đó lại là một lợi ích mà về sau tôi mới phát hiện ra.

Sáng hôm ấy, sau khi chờ đến lượt tại nhà vệ sinh tập thể, rồi đến lượt tại bồn rửa mặt tập thể, rồi đến lượt vào phòng tắm tập thể, tôi leo lên một dãy cầu thang, đẩy cửa bước vào bãi đỗ xe, đi đến chỗ chiếc Honda City. Chiếc xe phải được lau chùi bằng vải mềm ướt, cả trong lẫn ngoài; một nén hương phải được cắm vào bức tượng nhỏ thần Lakshmi, nữ thần của sự thịnh vượng, được đặt ngồi trên mặt đồng hồ công tơ mét - việc làm một công đôi lợi, vừa đuổi bọn muỗi chui vào đêm trước, vừa thắp lên bên trong xe một mùi hương thần thánh. Tôi lau các ghế ngồi - những chiếc ghế bọc da bóng lộn đẹp đẽ; rồi lau mặt đồng hồ; đoạn nhấc những tấm thảm da lên khỏi sàn xe để phủi bụi.

Có ba miếng nhãn dán hình nữ thần mẹ Kali gắn trên mặt đồng hồ công tơ mét - tôi đã dán chúng lên đó sau khi ném hết những nhãn dán của Ram Persad; tôi lau cả chúng. Có một con yêu tinh nhồi bông nhỏ xíu với cái lưỡi đỏ thè ra khỏi mồm treo lủng lẳng bằng dây xích ở kính chiếu hậu. Nó được xem là bùa may mắn, lão Cò rất thích nhìn nó nảy lên rơi xuống khi xe chạy.

Tôi đấm vào mồm con yêu tinh - rồi lau nó sạch sẽ. Sau đó đến công đoạn kiểm tra hộp khăn giấy ở sau xe - chiếc hộp được chạm trổ và mạ vàng hết sức tinh tế, như một vật sở hữu của hoàng gia, dù thực ra nó làm từ giấy bồi. Tôi phải đảm bảo có khăn giấy mới trong hộp. Bà Pinky dùng hàng chục mảnh mỗi lần đi ra ngoài - bà bảo ô nhiễm ở Delhi kinh quá. Bà đã để lại những mảnh khăn giấy bị vò nát gần chiếc hộp, tôi phải nhặt chúng lên vứt đi.

Tiếng chuông điện inh ỏi khắp bãi xe. Một giọng nói từ chiếc micro của sảnh đợi cất lên, “Tài xế Balram. Vui lòng cho xe đến cổng chính Buckingham Dãy B.”

Vậy là tôi ngồi vào chiếc Honda City, lái xe lên một đoạn dốc, và tiến ra để nhìn thấy ánh sáng đầu tiên trong ngày. Hai anh em ông chủ mặc y phục bóng bẩy - họ đang đứng tại cửa tòa nhà, say sưa nói chuyện; khi lên xe, Cầy Mangut nói, “Đến Trụ sở Đảng Quốc Đại nhé, Balram. Ta đến đấy hôm trước rồi - hi vọng mày nhớ và đừng có đi lạc nữa đấy”. Tôi sẽ không làm ông thất vọng đâu, thưa ông.

Giờ cao điểm ở Delhi. Ô tô, xe tay ga, xe gắn máy, xe lam, taxi đen, tất cả hối hả giành chỗ trên đường. Ô nhiễm trầm trọng đến mức những người ngồi trên xe máy phải dùng khăn tay bịt quanh mặt - mỗi khi dừng xe ở đèn đỏ, ngài sẽ thấy một hàng người đeo kính đen và mặt nạ, cứ như cả thành phố tổng tham gia vào một vụ cướp nhà băng sáng hôm ấy.

Có một lý do chính đáng cho những chiếc mặt nạ ấy; người ta nói không khí ở Delhi xấu đến mức làm con người giảm mười năm tuổi thọ. Đương nhiên, những người ngồi trong xe con thì không cần phải thở thứ không khí bên ngoài - đã có không khí mát mẻ, sạch sẽ từ máy điều hòa nhiệt độ cho chúng tôi. Kéo kín cửa sổ, những chiếc xe của người giàu như những quả trứng đen lăn trên đường phố Delhi. Thỉnh thoảng một quả trứng nứt ra - một bàn tay phụ nữ, lấp lánh những vòng tay bằng vàng, với ra khỏi cửa sổ xe, ném một chai nước khoáng rỗng xuống đường - rồi cửa kính kéo lên, và quả trứng đóng kín trở lại.

Tôi đang điều khiển quả trứng đen của mình vào trung tâm thành phố. Ở bên trái tôi trông thấy mái vòm của Dinh tổng thống - nơi mà mọi hoạt động quan trọng của đất nước diễn ra. Khi ô nhiễm không khí thật sự tồi tệ, tòa nhà hoàn toàn bị xóa mờ trên đường, nhưng hôm nay nó tỏa sáng đẹp đẽ.

Trong vòng mười phút, tôi đã đến trụ sở Đảng Quốc Đại. Nơi này rất dễ tìm, vì ở bên ngoài luôn treo hai, ba tấm áp phích khổng lồ in hình Sonia Gandhi. Tôi dừng xe, chạy ra, mở cửa cho ông Ashok và Cầy Mangut; khi bước ra, ông Ashok nói, “Chúng ta sẽ quay ra sau nửa giờ nữa”.

Điều này khiến tôi bối rối; lúc ở Dhanbad họ không bao giờ nói với tôi khi nào thì quay lại. Dĩ nhiên nó chẳng có ý nghĩa gì. Họ có thể quay lại sau hai giờ, hoặc ba giờ. Nhưng đó là một thứ phép lịch sự mà rõ ràng giờ đây họ phải thể hiện với tôi vì chúng tôi đang ở Delhi.

Một nhóm nông dân đến trụ sở. Không được phép vào bên trong, họ gào thét cái gì đó rồi bỏ đi. Một chiếc xe truyền hình đến bấm còi; và được cho vào ngay lập tức. Tôi ngáp dài. Tôi đấm vào cái miệng màu đỏ của con yêu tinh đen, nó bật lại rồi nảy lên. Tôi xoay đầu vòng vòng, từ bên này sang bên kia.

Tôi nhìn tấm áp phích lớn của Sonia Gandhi. Bà ta giơ một tay lên, như thể đang vẫy tay với tôi - tôi vẫy tay đáp lại. Tôi ngáp, nhắm mắt, trượt xuống ghế. Một mắt nhắm một mắt mở, tôi nhìn vào miếng nhãn dán nữ thần Kali - một nữ thần da đen rất hung hãn, đang cầm thanh đại đao và xâu sọ người. Tôi tự nhủ phải thay miếng dán đó. Bà ta trông giống bà nội quá. Hai giờ sau, hai anh em trở lại xe.

“Chúng ta sẽ đến Dinh tổng thống nhé, Balram. Đi lên đồi. Mày biết chỗ đó không?”

“Vâng thưa ông, con đã nhìn thấy nó rồi.”

Bây giờ, tôi đã thấy hầu hết những địa danh nổi tiếng của Delhi - Tòa nhà quốc hội, đài thiên văn

Jantar Mantar, đài chiến thắng Qutub - nhưng tôi chưa đến nơi này - nơi quan trọng nhất. Tôi lái xe về hướng Đồi Raisina, lên đồi, dừng lại mỗi khi một lính canh thò tay ra kiểm tra trong xe, rồi sau đó dừng ngay trước một trong những tòa nhà mái vòm lớn xung quanh Dinh tổng thống.

“Chờ trong xe, Balram. Bọn ta sẽ quay lại sau ba mươi phút.”

Trong nửa giờ đầu tôi quá hãi không dám rời xe. Tôi mở cửa - bước ra - ngó nghiêng xung quanh. Ở một nơi nào đó bên trong những mái vòm và tòa nhà bao bọc quanh tôi, những ông lớn của đất nước - thủ tướng, tổng thống, các bộ trưởng hàng đầu và các quan chức – đang thảo luận công việc, viết chúng ra và đóng dấu lên giấy tờ. Một người nói, “Đấy, năm trăm triệu rupee cho cái đập nước ấy!”, và người khác nói, “Được thôi, vậy thì tấn công Pakistan đi!”

Tôi muốn chạy vòng quanh và hét lên: “Balram cũng ở đây! Balram cũng ở đây!”

Tôi chui lại trong xe để đảm bảo mình không làm gì ngu ngốc đến nỗi bị bắt. Khi hai anh em rời tòa nhà, trời đã tối; một người đàn ông to béo đi ra cùng họ, và nói chuyện với họ một chốc, bên ngoài xe, sau đó bắt tay họ và vẫy chào tạm biệt chúng tôi.

Ông Ashok mặt mũi tối sầm và sưng sỉa khi bước vào xe. Cầy Mangut bảo tôi chở họ về nhà - “Không được phạm sai lầm gì nữa, hiểu không?”

“Vâng, thưa ông.”

Họ ngồi lặng thinh, khiến tôi bối rối. Nếu tôi vừa mới vào trong Dinh tổng thống, thì tôi sẽ kéo cửa kính xuống và hét toáng lên với mọi người trên đường!

“Nhìn kìa!”

“Cái gì?”

“Bức tượng đó.”

Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ thấy một bức tượng bằng đồng lớn tạc một nhóm người - đây là bức tượng rất nổi tiếng, chắc chắn ngài sẽ trông thấy ở Delhi: dẫn đầu là Mahatma Gandhi với chiếc gậy, theo sau là nhân dân Ấn Độ, được dẫn dắt từ bóng tối ra ánh sáng.

Cầy Mangut liếc nhìn bức tượng.

“Nó thì sao? Anh từng thấy nó rồi.”

“Chúng ta đang lái xe ngang qua Gandhi, sau khi mới đút lót cho một ông bộ trưởng. Thật đ. chịu nổi, nhỉ.”

“Chú bây giờ nói chuyện giống vợ rồi đấy,” Cầy Mangut nói. “Anh không thích chửi thề - ở đây chúng ta không có thói quen đó.”

Nhưng ông Ashok đang giận đỏ mặt tía tai nên không giữ im lặng được nữa.

“Thật đ. chịu nổi - cái hệ thống chính trị của chúng ta - và em sẽ còn nói thế chừng nào em thích.”

“Mọi chuyện ở Ấn Độ phức tạp lắm, Ashok à. Không giống như ở Mỹ đâu. Làm ơn giữ mồm giữ miệng của chú.”

Tắc đường kinh khủng trên con đường đến Gurgaon.

Cứ mỗi năm phút đoàn xe lại rùng rùng di chuyển - chúng tôi nhích được vài tấc - hi vọng nhen nhóm - rồi sau đó những ánh đèn đỏ lại lóe lên trên những chiếc xe phía trước, và chúng tôi lại bị kẹt. Mọi người đều bấm còi. Thỉnh thoảng, những chiếc còi khác nhau, mỗi chiếc một âm vực riêng, hòa quyện vào nhau tạo thành tiếng van vỉ không dứt nghe như bê con bị tách rời khỏi mẹ.

Khói xe ngộp đặc không khí. Những dải khói màu xanh sáng lên trước mỗi chiếc đèn pha; khí thải tăng nhiều và dày đến độ không bay lên hay thoát ra được nữa, mà lan tỏa theo chiều ngang, lờ đờ mù mịt, tạo thành một lớp sương mù quanh chúng tôi. Que diêm liên tiếp được đánh lên - những người lái xe lam châm thuốc hút, góp thêm ô nhiễm thuốc lá vào ô nhiễm xăng dầu.

Một người đánh xe bò dừng trước chúng tôi; đống hộp dầu động cơ ô tô rỗng cao gần năm mét được buộc bằng một sợi dây thừng vào xe. Con trâu của người này mới đáng thương làm sao! Phải chở đống đồ ấy - trong khi hít thứ không khí này!

ARAVIND ADIGA
Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất