02/09/2010 12:51 GMT+7

Đêm thứ hai (tt)

ARAVIND ADIGA
ARAVIND ADIGA

TTO - Đó là một cửa hiệu nhỏ, và không dưới năm chục người đang chen chúc trong khoảng không gian ba mét trước quầy tính tiền, ai cũng hét lạc cả giọng trong lúc vẫy vẫy những tờ tiền mệnh giá cao:

lZ5Eu4MS.jpgPhóng to
TTO - Đó là một cửa hiệu nhỏ, và không dưới năm chục người đang chen chúc trong khoảng không gian ba mét trước quầy tính tiền, ai cũng hét lạc cả giọng trong lúc vẫy vẫy những tờ tiền mệnh giá cao:

“Rượu mạnh Kingfisher một lít!”

“Old Monk nửa chai!”

“Thunderbolt! Thunderbolt!”

Họ sẽ không uống những loại rượu này; trông bộ dạng quần áo bẩn thỉu rách rưới thì biết ngay họ chỉ là đầy tớ, như Ram Persad và tôi, đi mua rượu Anh cho ông chủ của mình. Nếu đến Jackpot sau tám giờ tối vào đêm cuối tuần thì cảnh tượng chẳng khác nào nội chiến trước quầy tính tiền; tôi phải đẩy lùi đám đàn ông trong khi Ram Persad chen lấn đến quầy và hét toáng lên:

“Black Dog! Chai đầy!”

Black Dog là cái tên đầu tiên trong danh mục whisky loại một. Đó là loại rượu duy nhất mà bố con lão Cò chịu uống. Ram Persad thường nhận lấy chai rượu; rồi sau đó tôi sẽ tả xung hữu đột với đám đầy tớ khác để tìm đường thoát ra trong khi hắn ôm chai rượu trong tay. Đó là thời điểm duy nhất mà chúng tôi hợp tác như đồng đội.

Trên đường về nhà, Ram Persad lúc nào cũng ghé lại bên vệ đường và trút chai Black Dog ra khỏi hộp giấy bồi. Hắn bảo làm thế để kiểm tra xem Jackpot có đánh lừa chúng tôi không. Tôi biết hắn láo toét. Hắn chỉ muốn được cầm lấy chai rượu mà thôi. Hắn muốn được ôm chai whisky loại một đầy ngập mới nguyên trong tay. Hắn muốn tưởng tượng đang mua rượu cho chính mình. Rồi hắn lại cho chai rượu vào hộp giấy bồi và trở về nhà, tôi đi theo sau, hãy còn hoa cả mắt vì nhìn thấy quá nhiều rượu Anh.

Buổi tối, khi Ram Persad ngáy ầm ầm trên giường, tôi nằm trên sàn gối đầu lên hai bàn tay. Tôi nhìn chằm chằm lên trần nhà. Và suy nghĩ làm sao mà hai con trai của lão Cò lại khác nhau một trời một vực như ngày với đêm.

Ngài Mukesh là một người nhỏ bé, đen nhẻm, xấu xí, và cực kì khôn ngoan. Lúc còn ở nhà chúng tôi hay gọi ông ta sau lưng là “Cầy Mangut”. Ông ta kết hôn đã vài năm với một người vợ chất phác đang béo lên từng ngày sau khi sinh hai đứa con, đều là trai. Ông “Cầy Mangut” này không thừa hưởng thân hình - nhưng lại thừa hưởng đầu óc của ông bố. Hễ thấy tôi rảnh tay một chút là ông ta lại quát, “Tài xế, đừng la cà ở đó làm gì! Lau xe đi.”

“Lau rồi thưa ông.”

“Vậy thì lấy chổi quét sân đi.”

Ông Ashok thừa hưởng thân hình của bố; ông ấy cao, to và đẹp trai, ra dáng con trai địa chủ. Vào buổi tối, tôi thấy ông chơi cầu lông với vợ trong trang viên. Bà ấy mặc quần; tôi há hốc mồm. Trước đấy có ai nhìn thấy phụ nữ mặc quần bao giờ - trừ trong phim ảnh? Thoạt đầu tôi cứ ngỡ bà là người Mỹ, một trong những thứ kì diệu mà ông Ashok đem về từ New York, như giọng nói và nước hoa hương hoa quả mà ông thoa lên mặt sau khi cạo râu.

Hai ngày sau, Ram Persad và ông già người Nepal mắt xếch đứng buôn chuyện với nhau. Tôi cầm chổi, bắt đầu quét sân rồi tiến gần hơn, gần hơn đến họ.

“Bà ấy theo đạo Cơ Đốc, mày biết không?”

“Không đời nào.”

“Thật mà!”

“Và ông lấy bà?”

“Họ lấy nhau bên Mỹ. Người Ấn chúng ta khi đến đó rồi thì chẳng còn coi trọng chuyện gia phong giai cấp nữa,” ông già người Nepal nói.

“Ông già một mực phản đối chuyện cưới xin. Người nhà bà ta cũng chẳng vui sướng gì cho cam.”

“Vậy - chuyện xảy ra như thế nào?”

Ông già người Nepal trừng mắt nhìn tôi. “Ê, mày đang nghe lỏm bọn tao đấy phỏng?”

“Không ạ.”

Một buổi sáng có tiếng gõ cửa tại khu nhà ở của tài xế, và khi tôi bước ra, bà Pinky đang đứng đấy với hai cây vợt trong tay. Một tấm lưới đã được giăng giữa hai chiếc cột ở góc sân; bà đứng ở một phía của tấm lưới, tôi đứng phía còn lại. Bà phát cầu - nó tung lên, rồi rơi xuống cạnh chân tôi.

“Này! Di chuyển đi! Đánh nó lại!”

“Xin lỗi bà. Con xin lỗi.”

Tôi chưa từng chơi trò này bao giờ. Tôi đánh quả cầu về phía bà, nhưng nó bay thẳng vào tấm lưới.

“Ôi, đồ vô dụng. Thằng tài xế kia đâu?”

Ram Persad lao ngay đến chỗ tấm lưới. Hắn đã đứng cạnh bên theo dõi trò chơi suốt. Hắn biết chính xác cách chơi cầu lông. Tôi nhìn hắn đánh quả cầu nhẹ nhàng qua khỏi tấm lưới và đáp trả nhịp nhàng từng cú một với bà, bụng dạ sôi lên. Trên thế gian này có lòng căm ghét nào cho bằng lòng căm ghét của tài xế số hai đối với tài xế số một?

Dù chúng tôi ngủ dưới một mái nhà, chỉ cách nhau vài mét, nhưng chúng tôi không bao giờ hé răng với nhau một lời - không hề có Xin chào hay Mẹ anh khỏe không, chẳng có gì hết. Tôi cảm nhận được hơi nóng tỏa ra từ hắn suốt đêm - tôi biết hắn đang nguyền rủa và ếm bùa tôi trong lúc ngủ. Thì đấy, ngày nào hắn cũng dậy cúi đầu trước không dưới hai mươi bức ảnh các loại thần mà hắn treo trên tường phòng, rồi nói, “Om, om, om.” Khi hắn làm thế, hắn nhìn tôi qua khóe mắt, như thể nói, Mày không cầu nguyện à? Mày là gì, một tên Naxal chắc?

Một đêm tôi ra chợ mua hai tá tượng Hanuman và Ram loại rẻ nhất mà tôi tìm được rồi đem về chất đầy phòng; và chúng tôi thi nhau, người này lấn át lời cầu nguyện của kẻ kia vào buổi sáng trong khi cúi mình đảnh lễ trước những vị thần riêng của mình.

Ông già người Nepal tay mặt liền tay trái với Ram Persad. Một hôm ông ta ập vào phòng tôi rồi đặt một chiếc xô nhựa đánh phịch xuống đất.

“Mày có thích chó không, thằng trai làng?” ông ta hỏi với nụ cười nhăn nhở.

Có hai con chó thuộc giống Pomeran trong nhà - tên là Cuddles và Puddles. Người giàu muốn chó của mình được đối xử như con người, ngài biết không - họ muốn chó của mình được chiều chuộng, dắt đi dạo và nựng nịu, thậm chí được tắm rửa nữa chứ! Và đố ngài biết ai phải làm công việc tắm táp ấy? Tôi quỳ xuống kì cọ lũ chó, sau đó xoa xà phòng cho chúng, đánh nổi bọt, rồi rửa sạch, sau đó lấy máy sấy tóc sấy khô da chúng. Xong đâu đấy tôi cầm dây dắt chúng đi dạo quanh trang viên trong khi ông vua Nepal ngồi ở một góc và quát, “Đừng kéo dây mạnh quá! Chúng còn đáng giá hơn cả mày đấy!”

Khi đã xong nhiệm vụ với Cuddles và Puddles, tôi đi về, ngửi hai tay mình - thứ duy nhất có thể làm bay mùi da chó khỏi đôi tay của kẻ đầy tớ chính là mùi da của ông chủ nó. Ông Ashok đang đứng ngoài phòng tôi.

Tôi chạy đến trước mặt ông và cúi rạp xuống. Ông đi vào phòng; tôi đi theo, vẫn cúi gập người. Ông cúi đầu để đi qua khung cửa - cái khung được xây cho đám đầy tớ thiếu ăn, không phải cho ông chủ cao lớn được chăm sóc kĩ như ông ấy. Ông nhìn lên trần nhà đầy nghi ngại.

“Khiếp nhỉ,” ông nói.

Cho đến lúc đó tôi đã không nhận ra sơn trên trần đang tróc ra thành mảng lớn, và mạng nhện giăng khắp các góc phòng. Tôi đã quá hạnh phúc trong căn phòng ấy đến thời điểm này.

“Sao có mùi kinh thế? Mở cửa sổ ra nào.”

Ông ngồi xuống giường của Ram Persad rồi lấy ngón tay ấn xuống. Có cảm giác cứng. Tôi lập tức thôi ganh tị với Ram Persad. (Và vậy là tôi nhìn căn phòng bằng mắt ông ấy; ngửi nó bằng mũi ông ấy, ấn nó bằng ngón tay ông ấy - tôi đã bắt đầu lĩnh hội ông chủ của mình!). Ông nhìn về phía tôi, nhưng tránh ánh mắt tôi, cứ như thấy tội lỗi gì đấy.

“Cậu và Ram Persad đều sẽ có một căn phòng tốt hơn để ngủ. Có giường riêng. Và một chút riêng tư.”

“Xin ông đừng làm thế ạ. Nơi này đã là cung điện với chúng con rồi.”

Điều đó khiến ông ấy cảm thấy dễ chịu hơn. Ông nhìn tôi.

“Cậu đến từ Laxmangarh, phải không?”

“Vâng thưa ông.”

“Ta sinh ra ở Laxmangarh. Nhưng ta chưa từng nhìn thấy nơi ấy. Cậu cũng sinh ra ở đấy à?”

“Vâng thưa ông. Sinh ra và lớn lên ở đó.”

“Nơi ấy thế nào?”

Trước khi tôi kịp trả lời, ông nói, “Chắc là đẹp lắm.”

“Như thiên đường đấy ạ.”

Ông nhìn tôi từ trên xuống dưới, từ đầu đến chân, như cách mà tôi đã quan sát ông kể từ khi tôi mới đến nhà này. Đôi mắt ông đầy ắp tư lự: sao hai cá thể người đối lập nhường này lại có thể được tạo ra bởi cùng một loại đất cát, nước và ánh sáng mặt trời như thế?

“Chà, ta muốn đến đó hôm nay,” ông nói, đứng dậy khỏi giường. “Ta muốn nhìn thấy nơi mình sinh ra. Cậu sẽ chở ta đến đó.”

“Vâng thưa ông!”

Về nhà! Lại còn được mặc đồng phục, lái chiếc xe của lão Cò, chuyện trò với con trai và con dâu lão! Tôi những muốn quỳ xuống chân ông và hôn lên chúng.

Lão Cò cũng muốn đi cùng chúng tôi, và như thế sẽ thực sự biến chuyến về làng của tôi trở nên long trọng - nhưng vào phút chót lão quyết định ở lại. Cuối cùng, chỉ có ông Ashok và bà Pinky được tôi chở đi trên chiếc Honda City, về miền quê, thẳng tiến Laxmangarh.

Đó là lần đầu tiên tôi chở hai vợ chồng họ - đặc quyền này vẫn thuộc về Ram Persad cho đến lúc ấy. Tôi vẫn chưa quen với chiếc Honda City, vốn là một chiếc xe đỏng đảnh có tâm tính riêng, như tôi đã nói. Tôi chỉ cầu mong các vị thần - tất cả thần thánh - đừng để tôi phạm sai lầm nào.

Họ chẳng nói gì trong nửa giờ. Là tài xế, đôi khi ngài có thể cảm nhận được khi nào không khí trong xe đang căng thẳng; nó làm tăng nhiệt độ trong xe. Người phụ nữ trên xe đang rất giận dữ.

“Tại sao chúng ta lại đi đến cái chốn khỉ ho cò gáy này, Ashoky?”. Giọng của bà, cuối cùng cũng phá tan sự im lặng.

“Đó là quê quán tổ tiên của anh, Pinky à. Em không muốn nhìn thấy nó sao? Anh được sinh ra ở đó - nhưng bố gửi anh đi khi anh còn nhỏ. Lúc ấy đang có rắc rối với những du kích Cộng sản. Anh nghĩ chúng ta có thể…”

“Anh đã định ngày về chưa?” bà đột ngột hỏi.“Ý em là về New York.”

“Không. Chưa đâu. Chúng ta sẽ định ngày sớm thôi.”

Ông im lặng trong giây lát; hai tai tôi lúc ấy đã mở căng. Nếu họ trở về Mỹ - chẳng phải là họ sẽ không còn cần đến tài xế thứ hai trong nhà hay sao?

Bà chẳng nói gì; nhưng tôi xin thề, tôi có thể nghe thấy tiếng bà nghiến răng.

Song ông Ashok lại chẳng hay biết gì - ông bắt đầu ngân nga trong miệng một bài nhạc phim, cho đến khi bà nói, “Đùa cái đ. gì thế.”

“Thế là sao?”

“Anh nói dối chuyện trở về Mỹ, đúng không, Ashok - anh sẽ không bao giờ trở lại, có phải không?”

“Trong xe có tài xế, Pinky - anh sẽ giải thích mọi chuyện sau.”

“Ôi, nó thì có gì quan trọng! Nó chỉ là tài xế. Còn anh lại đang đánh trống lảng lần nữa!”

Một mùi hương đáng yêu bao trùm chiếc xe - tôi biết bà hẳn đã di chuyển và chỉnh trang lại quần áo.

“Sao chúng ta lại cần tài xế chứ? Sao anh không lái xe, như anh từng lái đấy thôi?”

“Pinky, đó là New York - em không thể lái xe ở Ấn Độ, cứ nhìn giao thông mà xem. Chẳng có ai tuân thủ luật lệ gì cả - người ta cứ băng qua đường như điên - nhìn xem - nhìn kia kìa…”

Một chiếc máy kéo đang chạy xuống đường hết tốc lực, khạc ra một chùm khói dầu diesel đen kịt từ ống xả.

“Nó đang chạy sai lề! Người lái chiếc máy kéo ấy thậm chí còn không nhận ra!”

Tôi cũng chẳng nhận ra. Thì tôi biết phải chạy xe ở lề trái, nhưng đến lúc đó tôi không ngờ lại có người bức xúc vì chuyện này đến thế.

“Và cứ nhìn dầu diesel mà nó đang thải ra kìa. Nếu anh lái xe ở đây, anh sẽ điên mất, Pinky ạ.”

Chúng tôi đi dọc theo một con sông, và rồi cũng đến cuối con đường trải nhựa, tôi chở họ qua một đoạn đường dằn xóc, sau đó qua một khu chợ nhỏ với đâu chừng ba cửa hiệu giống nhau, bán những món hàng như nhau gồm dầu hỏa, nhang, và gạo. Mọi người nhìn chúng tôi không chớp mắt. Vài đứa trẻ bắt đầu chạy theo xe. Ông Ashok vẫy tay với bọn chúng, cố làm cho bà Pinky vẫy theo.

Lũ trẻ con biến mất, chúng tôi đã vượt qua ranh giới mà chúng không thể chạy theo được nữa. Chúng tôi vào khu địa chủ.

Người quản gia đang đợi ở cổng trang viên của lão Cò; ông ta mở cửa xe ngay cả trước khi tôi cho xe dừng hẳn, rồi chạm vào chân ông Ashok.

“Hoàng tử nhỏ, cuối cùng ngài cũng đến đây. Cuối cùng cũng đã đến!”

Lợn Rừng đến dùng cơm trưa với ông Ashok và bà Pinky - dù sao lão cũng là bác của họ. Vừa trông thấy lão bước vào dinh thự để dùng bữa trưa, tôi vội đi xuống nhà bếp nói với ông quản gia, “Tôi yêu kính ông Ashok lắm, cứ để tôi phục vụ ông ấy bữa trưa!”. Người đầu bếp đồng ý - và tôi có dịp lần đầu tiên nhìn tận mắt Lợn Rừng sau ngần ấy năm. Lão già hơn tôi tưởng, lưng còng hơn, nhưng răng thì vẫn như cũ: bén và xỉn đen với hai chiếc răng hình móc câu không lẫn vào đâu được cong vểnh sang hai bên. Họ ăn ở phòng yến tiệc - một nơi tuyệt diệu, trần cao vời vợi, có đồ nội thất nặng trịch kiểu cổ bày biện khắp nơi, và một đèn chùm khổng lồ.

“Thật là một tòa nhà đẹp,” ông Ashok nói. “Mọi thứ đều lộng lẫy.”

“Trừ chiếc đèn chùm - nó hơi lòe loẹt,” bà nói.

“Bố cháu mê đèn chùm lắm,” Lợn Rừng lên tiếng. “Nó còn muốn gắn một chiếc trong phòng tắm ở đây, cháu biết không? Bác nói nghiêm túc đấy!”

Khi người quản gia bê những đĩa thức ăn ra đặt lên bàn, ông Ashok nhìn rồi hỏi, “Bác không có món gì cho người ăn chay à? Tôi không ăn thịt.”

“Ta chưa từng nghe nói địa chủ nào là người ăn chay,” Lợn Rừng nói. “Như thế không tự nhiên. Cháu cần ăn thịt để trở nên rắn rỏi hơn.” Lão há miệng chỉ vào hai chiếc răng cong vút.

“Cháu không thể tin nổi việc giết động vật vô tội vạ. Cháu biết nhiều người ăn chay ở Mỹ, và cháu nghĩ họ đúng.”

“Đám trai trẻ các cháu tiếp nhận những tư tưởng điên rồ gì thế?” lão già nói. “Cháu là địa chủ. Chỉ những người Bà La Môn mới ăn chay, không phải chúng ta.”

Sau bữa trưa tôi rửa bát, giúp người quản gia pha trà. Ông chủ đã được phục vụ; giờ là lúc tôi đi thăm nhà. Tôi rời khỏi dinh thự bằng cửa sau. Thật tình, họ còn nhanh chân hơn cả tôi. Cả nhà tôi đã kéo đến dinh thự, đang xúm xít quanh chiếc Honda City, nhìn nó chằm chằm đầy tự hào, mặc dù quá hãi không dám chạm vào.

Kishan giơ tay lên. Tôi đã không gặp anh kể từ khi anh rời Dhanbad về nhà làm ruộng - đó là ba tháng trước. Tôi cúi xuống chạm vào chân anh, và cứ ôm rịt lấy chúng thật lâu, vì tôi biết giây phút tôi thả ra anh sẽ cho tôi nhừ đòn - tôi đã không gửi tiền về nhà trong hai tháng qua.

“Ối da, hóa ra nó cũng còn nhớ đến nhà mình đấy!”, anh ngọt nhạt, hất tôi ra khỏi chân. “Nó có quan tâm gì đến chúng ta đâu cơ chứ?”

“Xin anh tha lỗi cho em.”

“Chú mày chẳng gửi đồng xu nào về trong mấy tháng rồi. Chú quên mất thỏa thuận của chúng ta.”

“Tha lỗi cho em, tha lỗi cho em.”

Nhưng họ có giận gì đâu. Đó là lần đầu tiên tôi có thể nhớ mình được quan tâm chăm sóc nhiều hơn con trâu. Om sòm ồn ào nhất, như thường lệ, là bà già Kusum quỷ quyệt, mồm cứ cười hí hửng, tay chà xát cánh tay.

“Ôi, ngày cháu còn nhỏ cứ là một tay bà đút cho ăn bánh kẹo,” bà vừa nói vừa bẹo má tôi. Bà quá khiếp vía trước bộ đồng phục của tôi nên chả dám thử đụng vào chỗ nào khác trên người. Họ suýt nữa là vác tôi lên lưng trở về nhà cũ, phải nói thế. Xóm giềng đang chờ ở đấy để xem bộ đồng phục của tôi.

Tôi được giới thiệu những đứa trẻ con sinh ra trong nhà sau khi tôi đi, bị buộc phải hôn lên trán chúng. Thím Laila đã sinh hai đứa khi tôi đi. Vợ anh họ Pappu, Leela, đã kịp làm một đứa. Gia đình đông đúc hơn. Nhu cầu cũng nhiều hơn. Tôi bị tổng xỉ vả vì không gửi tiền về hằng tháng.

Kusum đấm vào đầu thùm thụp; mò sang nhà hàng xóm rên rỉ. “Thằng cháu tôi có công ăn việc làm, vậy mà nó vẫn còn bắt tôi làm việc. Đến là khổ cho cái thân già này.”

“Kiếm vợ cho nó đi!”, xóm giềng la ó. “Đó là cách duy nhất thuần phục những đứa hoang đàng như nó!”

“Phải,” Kusum đáp. “Phải, đó là một ý hay.” Bà cười nhăn nhở, chà xát cánh tay. “Một ý rất hay.”

Kishan có rất nhiều tin tức để báo với tôi - và bởi vì đây là Bóng tối, nên tất thảy đều là tin xấu. Đảng viên Đại Xã hội đang mục nát hơn bao giờ hết. Cuộc chiến giữa những tên khủng bố Naxal với địa chủ trở nên đẫm máu hơn. Những kẻ ruồi muỗi như chúng tôi bị kẹt ở giữa. Mỗi bên đều có đội quân riêng, đi lăng quăng bắn giết đánh đập những người bị tình nghi là ủng hộ phe kia.

“Cuộc sống ở đây biến thành địa ngục rồi,” anh bảo. “Nhưng bọn anh rất vui vì chú thoát khỏi chốn hỗn tạp này - chú có một bộ đồng phục, và một ông chủ tốt.”

Kishan đã thay đổi. Anh gầy hơn, đen hơn - gân cổ lòi ra nhô cao trên chiếc xương đòn sâu hoắm. Đột nhiên, anh đã trở thành bố.

ARAVIND ADIGA
Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất