Mẹ tôi định giữ phần 4.015,3m2 làm hương hỏa để 4 chị em cùng về giỗ ông bà cha mẹ. Việc bắt thăm diễn ra từ nhiều năm qua, nay kết thúc lại là 3 con gái phần 1.150,1m2, phần 4.015,3m2 thuộc phần chị Tư. Mẹ tôi có bảo ai trúng phần đất hương hỏa được quyền quản lý khai thác huê lợi, lấy đó làm giỗ ông bà, nếu không tròn trách nhiệm được quyền bầu chọn người khác trong 4 chị em hoặc con cháu.
Năm nay, anh rể tôi tự thảo di chúc bắt mọi người phải ký tên để 1 mình chị tôi đứng chủ quyền 4.015,3m2 cùng căn nhà mà không ai được quyền tranh chấp. Về phần 3 chị em: chị Hai và chị Ba không bằng lòng nhưng không dám mạnh dạn phản đối, riêng tôi phản đối quyết liệt, cho đó là không công bằng.
Theo tôi, chị tôi vẫn được hưởng thu hoạch và quản lý đất như mẹ tôi đã hứa; nhưng phần 4.015,3m2, chị Tư phải tách ra 2 sổ đỏ (1 phần bằng diện tích của 3 chị em bên ngoài cộng thêm 1 phần diện tích mà chị Tư tôi đã mua của anh họ từ trước; phần còn lại sẽ để tên 4 chị em để tránh những nảy sinh rắc rối về sau, vì có thể con cháu cho rằng đó là phần đất của cha mẹ ông bà để lại thôi chứ không phải là đất hương hỏa nên có thể bán đi tùy tiện).
Ý kiến của tôi được anh chị Tư cho là hoàn toàn bậy bạ, có ý đồ "giành ăn" và làm mất lòng anh em. Xin cho tôi biết đâu là đúng, đâu là sai trong chuyện này để đầu óc được thanh thản. Mặc dù anh chị tôi bảo làm theo ý họ để mẹ và gia đình được yên ổn và vui vẻ, nhưng tôi không cam tâm khi 1 người đã từng làm việc trong cơ quan chính quyền lại có ý nghĩ độc đoán và bất chấp như vậy. Rất mong được trả lời sớm. Xin cảm ơn.
Trần Thị Đỡ (hong.buithithanh@...)
- Trả lời của luật sư Nguyễn Văn Hậu:
Theo quy định tại điều 646 Bộ luật dân sự thì “di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết", do đó nếu anh rể bạn tự thảo di chúc để định đoạt tài sản của mẹ bạn và bắt mọi người ký tên là không đúng theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại điều 649 Bộ luật dân sự thì di chúc phải được lập thành văn bản, nếu không thể lập di chúc được bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Di chúc bằng văn bản bao gồm: Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có người làm chứng; Di chúc bằng văn bản có công chứng; Di chúc bằng văn bản có chứng thực. Bên cạnh đó, điều 654 Bộ luật dân sự quy định: Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây:
1. Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;
2. Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc;
3. Người chưa đủ mười tám tuổi, người không có năng lực hành vi dân sự.
Căn cứ theo các quy định nêu trên thì việc anh rể bạn tự soạn di chúc và yêu cầu mọi người trong gia đình ký tên là không đúng với các quy định của pháp luật.
Mặt khác, theo quy định tại điều 670 Bộ luật dân sự:
“1. Trong trường hợp người lập di chúc có để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho một người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng; nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng.
Trong trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử một người quản lý di sản thờ cúng.
Trong trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật.
2. Trong trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng”.
Theo đó, bạn có thể giải thích với mẹ bạn về những vấn đề liên quan đến phần đất hương hỏa theo ý chí của mẹ bạn. Trong trường hợp mẹ bạn muốn lập di chúc thì mẹ bạn có thể liên hệ các phòng công chứng hoặc UBND phường nơi miếng đất tọa lạc để được hướng dẫn.
Lưu ý với bạn là theo quy định tại điều 652 Bộ luật dân sự:
“1. Di chúc được coi là hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc, không bị lừa dối, đe dọạ hoặc cưỡng ép;
b) Nội dung di chúc không trái pháp luật, đạo đức xã hội, hình thức di chúc không trái quy định của pháp luật.
2. Di chúc của người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý.
3. Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
4. Di chúc bằng văn bản không có công chứng, chứng thực chỉ được coi là hợp pháp nếu có đủ các điều kiện được quy định tại khoản 1 điều này.
5. Di chúc miệng được coi là hợp pháp nếu người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau đó những người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn năm ngày, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng hoặc chứng thực”.
|
Mọi thắc mắc liên quan đến vấn đề nhà đất, thủ tục giấy tờ liên quan đến sổ đỏ, sổ hồng... hoặc bài vở cộng tác, bạn đọc có thể gửi về mục "Tư vấn nhà đất" hoặc "Địa ốc" tại địa chỉ: diaoc@tuoitre.com.vn Để chính xác về nội dung, vấn đề cần hỏi, bạn đọc vui lòng gõ có dấu (font chữ Unicode). Chân thành cảm ơn. HOÀI TRANG thực hiện |
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận