Đã có một thế hệ ốc bươu vàng lai?

06/12/2003 06:00 GMT+7

TT - Ốc bươu vàng (ÔBV) có hình dạng và kích thước rất giống ốc bươu (Pila polita) và ốc lác (Pila conica) của địa phương nên có nhiều dư luận cho rằng ÔBV đã lai được với hai loại ốc này do chính mắt đã trông thấy chúng bắt cặp với nhau. Hơn nữa, tại các điểm thu mua ÔBV để làm thức ăn cho tôm, cá và gia súc hiện nay người ta cũng quả quyết là có ÔBV lai.

DOf82k5t.jpgPhóng to 05tqsEKQ.jpg BJ4ReoGJ.jpg
Ốc bươu vàng Ốc bươu Ốc lác
oOsvw1A3.jpgPhóng to rxlbGmcl.jpg
Dạng lai giống ốc lác Vỏ có dạng ốc bươu vàng nhưng màu nâu
Nếu điều này xảy ra thì có nguy cơ các con lai của chúng sẽ thừa hưởng ưu thế lai (heterosis) và có thể sẽ trở nên loại ốc có khả năng gây hại lớn bất thường! Thực hư ra sao?

Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu (*) và kết quả cho thấy khi tạo điều kiện cho chúng giao phối với nhau thì chỉ có trường hợp ÔBV đực tìm đến giao phối với con cái của ốc lác và ốc bươu thường (phổ biến nhất là với ốc lác cái), không quan sát được trường hợp ngược lại.

Chúng đã giao phối với nhau thật sự, nhiều lần (1-5 lần trong 24 giờ) và thời gian mỗi lần lâu 30 phút, có khi 16 giờ sau mới rời nhau ra. Sau đó các con ốc lác cái (đã giao phối với ÔBV đực) đã đẻ nhiều ổ trứng với số trứng lên đến gần 200. Các trứng này được giữ trong điều kiện tối hảo cho chúng phát triển và chờ ngày nở. Tuy nhiên, không có trứng nào nở trong suốt 30 ngày ủ trứng, mặc dù thông thường trứng sẽ nở sau khoảng hai tuần.

Cắt trứng ra thấy không có phôi phát triển mà thành phần bên trong trứng đã dần teo khô lại. Điều này có thể giải thích là có sự giao tinh của con ÔBV đực nhưng sự thụ tinh của ốc lác và ốc bươu cái đã không thành công, vì tuy rất giống nhau về hình dạng và kích thước nhưng chúng khác xa nhau về phương diện di truyền do khác cả chi lẫn loài.

Ốc bươu vàng Pomacea canaliculata (Ampullariidae, Mesogastropoda) được du nhập VN để nuôi làm thực phẩm và xuất khẩu vào khoảng năm 1988.

Sau đó chúng thoát ra ngoài tự nhiên và gặp điều kiện sinh sống thích hợp nên đã phát triển thành loài động vật gây hại trầm trọng cho lúa ở hầu hết các tỉnh phía Nam.

Do đó, trong điều kiện tự nhiên sự lai xa (wide hybridization) đã không xảy ra giữa các loài ốc có hình thái và tập quán sinh sống rất giống nhau này. Đó là tín hiệu đáng mừng.

Các mẫu “ốc lai” cũng được chọn lọc và thu thập ngoài thực tế để phân tích xác định về phương diện hình thái học. Nhìn chung, có ba dạng “con lai” theo kiểu: (1) giống ốc lác nhưng vỏ có lỗ rốn hơi sâu và có màu vàng nhạt, thịt ốc cũng hơi vàng; (2) giống ÔBV nhưng vỏ lại dày hơn và có màu đen, thịt màu nâu đen; và (3) giống ốc bươu nhưng vỏ có những mảng vàng, thịt ốc có màu vàng nâu và buồng trứng có màu cam.

Tuy nhiên, khi phân tích đặc điểm phân loại dựa vào màu sắc của vỏ và thịt ốc, chiều cao đỉnh và chiều sâu lỗ rốn của vỏ ốc (là các tiêu chuẩn hình thái thường được dùng để phân biệt ba loại ốc này với nhau), tất cả đều cho thấy chúng không đủ tiêu chuẩn để xếp vào loại con lai.

Nói cách khác, chúng vẫn là ÔBV, ốc lác hoặc ốc bươu nhưng có các dị dạng hoặc màu sắc mà có thể do sự phát triển của chúng bị ảnh hưởng của điều kiện môi trường. Mặc dù vậy, việc phân tích và so sánh ADN giữa chúng với nhau cũng cần thiết và sẽ được chúng tôi tiến hành trong mùa mưa năm tới.

Một khía cạnh khác cũng đáng lưu ý là ở nơi nào có mật số ÔBV phát triển mạnh thì hầu như không còn hoặc còn rất ít ốc bươu và ốc lác - hai nguồn thực phẩm tự nhiên và dồi dào của nông dân đồng bằng sông Cửu Long.

Có sự khống chế nào từ ÔBV khi chúng sống chung và cạnh tranh về thức ăn, môi trường với hai loài ốc địa phương này hay không? Điều này cũng cần được tiếp tục theo dõi về phương diện bảo vệ sự đa dạng sinh học của môi trường và khảo sát về mặt cân bằng sinh thái học.

——————* Một phần luận án thạc sĩ nông học của ông Vũ Bá Quan (PGS. Nguyễn Văn Huỳnh hướng dẫn), bảo vệ ngày 5-11-2003 tại Đại học Cần Thơ.

TS NGUYỄN VĂN HUỲNH (Đại học Cần Thơ)
Bình luận (0)
    Xem thêm bình luận
    Bình luận Xem thêm
    Bình luận (0)
    Xem thêm bình luận