Phóng to |
| Tổng thống Yasser Arafat rời quê hương sang Pháp chữa bệnh |
Bản cáo phó của phong trào Intifada đã viết như sau về ông Arafat: “Ít có nhân vật đương đại nào lại gây tranh cãi như ông Yasser Arafat. Ông đã lãnh đạo Tổ chức giải phóng Palestine (PLO) trước khi đa số người Palestine ngày nay ra đời. Ngay cho dù trong nội bộ Palestine có những chỉ trích gay gắt về ông, Arafat vẫn khiến người khác cảm mến và trung thành với ông mà không một người Palestine đương thời nào khác có thể sánh được”.
Những “tranh cãi về ông Yasser Arafat”, “chỉ trích” trong nội bộ Palestine mà mạng intifada đề cập đến gồm những gì?
Phong trào Intifada giải thích: ”Những người Palestine là những người đầu tiên và chỉ trích ông nhiều nhất. Điều này ít được báo chí “chính thống” đăng tải. Trong thập niên cuối đời mình, Arafat bị chỉ trích bởi những người Palestine uất ức thất vọng vì những bất công của hiệp định hòa bình Oslo. Arafat cũng chịu nhiều điều tiếng cả từ các thân hữu của ông lẫn từ các nước phương Tây do nạn tham nhũng trong bộ máy hành chính của ông, công tác quản lý nhà nước tồi, nạn bè phái, và tính gia trưởng đi ngược với cách hành xử dân chủ”.
Phóng to |
| Rabin, Clinton và Arafat sau lễ ký hiệp ước Oslo |
Cũng thế, các êkip thân cận ông có sa đà để bị chỉ trích cũng là điều dễ hiểu. Ngay chiều tối thứ tư 10-11-2004, AP đưa tin Farouk Kaddoumi, vụ trưởng Vụ Chính trị của PLO, tuyên bố “Các tài khoản ngân hàng mang tên Tổng thống Yasser Arafat cũng còn được đăng ký với tư cách pháp nhân là Tổ chức PLO”. Một tuyên bố như thế mặc nhiên chấm dứt những nghi kỵ về tài sản trong ngân hàng của ông Arafat.
Bản cáo phó trở lại với những gì ông đã làm được: “Trong gần năm thập niên, Yasser Arafat đã là một hình tượng còn lớn hơn chính sự sống đối với cả những ai ngưỡng mộ ông lẫn những kẻ thù ghét hoặc sợ hãi ông, hay chính xác hơn, những kẻ thù ghét và sợ hãi cái nhìn về lịch sử, vê công lý, về chính trị của người Palestine. Từ cuối thập niên 1960, Arafat đã trở thành biểu tượng của chính nghĩa Palestine”.
Phóng to |
![]() |
| Bìa tạp chí Time ngày 11-11-1974 (trái) và bìa tạp chí Time ngày 13-12-1968 | |
Có lẽ tính chất “biểu tượng” đó được thể hiện rõ nhất qua số bìa báo Time dành cho ông Arafat: tám lần lên bìa 1, một kỷ lục trong thế kỷ qua chưa ai sánh được và cả trong thế kỷ tới! Vấn đề không chỉ ở vinh quang cá nhân của ông mà là cho chính nghĩa chung: Nếu như trên bìa báo Time đầu tiên đề ngày 13-12-1968, ông được chú thích là ”thủ lĩnh biệt động Yasser Arafat, lực lượng thách đố mới mẻ của người Ả Rập ở Trung Đông”, thì chỉ sáu năm sau, báo Time 11-11-1974 khi đăng ảnh ông trên bìa 1 đã chỉ chú thích bằng từ ngữ “(Những) người Palestine”.
Nghĩa là chỉ trong vòng sáu năm, báo Time đã mặc nhiên thay đổi cái nhìn về công việc của ông: từ một trong vô vàn tổ chức Ả Rập, ông trở thành hiện thân cho chính nghĩa đòi có một quê nhà của người Palestine. Cuộc đấu tranh của Yasser Arafat chính là cuộc đấu tranh tìm một mảnh đất cho người Palestine. Sau khi mảnh đất quê nhà của họ bị cắt thành hai mảnh, một cho người Do Thái, một mang tên Cisjordanie (mà báo chí Anh - Mỹ phớt lờ gọi là Bờ Tây sông Jordan) vào năm 1948, để rồi ngày nay khi nói đến đất đai của người Palestine, chỉ có thể chỉ trên bản đồ: “Đây là dải Gaza, kia là Bờ Tây”! Ngay cả những người anh em Ả Rập khác cũng không sẵn lòng cho người Palestine cằm dùi.
Có ai ngờ rằng đúng 30 năm, chính xác từng ngày, sau số báo Time đầu tiên ghi nhận quyền sống của người Palestine, cũng lại là ngày mà ông ra đi lần cuối xa quê nhà! Hòa bình đã trong tầm tay.
Phóng to |
| Yasser Arafat và Fidel Castro |
Từ đó, dẫn đến một khởi đầu cho một nhà nước Palestine và một tiến trình đàm phán hòa bình khá thuận thảo, các hiệp định tiếp theo như Oslo 2, Taba đã trao trả quyền lực lại cho PLO để trở thành cơ quan quyền lực Palestine.
Con đường hòa bình đó thật ra không luôn được thẳng tiến. Những trở lực từ nội bộ hai phía không ngừng phá hoại. Về phía Palestine, sáng kiến của ông Arafat và PLO gặp phải sự chống đối của ít nhất cũng là 10 tổ chức đấu tranh vũ trang khác, trong đó nổi bật là các phái Hamas và Hezbollah không ngừng tổ chức khủng bố.
Phóng to |
| Vợ con Tổng thống Yasser Arafat |
Thế rồi tất cả đã tan vỡ vào tháng 1. 2001 khi cánh hữu lên cầm quyền ở Irael rồi sau đó là Tổng thống George Bush ở Hoa Kỳ. Những hiệp định đã ký trước kia bỗng dưng trở thành vô hiệu. Chính quyền Sharon vịn cớ ông Arafat không kiểm soát được nạn khủng bố để phủi tay tất cả, đòi hỏi ông Arafat kiểm soát được phái Hamas, một phái tranh chấp quyền hành với ông Arafat nên tẩy chay các hiệp định hòa bình, một cái cớ để từ đó Tel Aviv kết tội ông che giấu, xúi giục khủng bố và quản thúc ông ở Ramallah.
Phóng to |
| Tổng thống Yasser Arafat |
Tuyên bố của Bộ trưởng Ngoại giao Palestine Nabil Chaath hôm thứ ba 9-11-2004 đã tóm tắt khá rõ tình cảnh và nguyên nhân cái chết của ông: “Chúng tôi đã thảo lụận lâu dài với êkip y khoa chăm sóc tổng thống, cùng với lãnh đạo Bệnh viên Percy ở Clamart. Đến giờ phút này chúng tôi không nắm được toàn bộ nguyên nhân suy kiệt sức khỏe của tổng thống. Chúng tôi chỉ biết ngài không bị bệnh gì. Ngài không bị ung thư ác tính, và các bác sĩ cũng đã loại bỏ giả thiết ngài bị đầu độc. Chỉ còn một vài giải thích khả dĩ và các bác sĩ nghiêng về giả thiết tuổi cao của ngài.
Ngài đã sống quá cơ cực trong ba năm qua, trong văn phòng chật chội của ngài, không thoáng khí và thiếu điều kiện vệ sinh, bị bao vây bởi quân đội Israel, điều đó đã dẫn đến một số vấn đề sức khỏe.







Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận