20/10/2009 13:15 GMT+7

Chính sách ngoại giao cho nền kinh tế (tiếp theo)

NGUYỄN CẢNH BÌNH
NGUYỄN CẢNH BÌNH

TTO - Ngược lại, James Madison luôn có mối ác cảm với nước Anh. Đối với ông, nước Anh đại diện cho mọi tội lỗi của thế giới, một đất nước tham lam chỉ nhăm nhăm việc buôn bán kiếm lời. Madison cũng có thành kiến đối với nhà nước tôn giáo một nhà thờ và mối đe doạ của chính thể quân chủ.

Chương 11:

Chính sách ngoại giao cho nền kinh tế (tiếp theo)

ImageView.aspx?ThumbnailID=350978

TTO - Ngược lại, James Madison luôn có mối ác cảm với nước Anh. Đối với ông, nước Anh đại diện cho mọi tội lỗi của thế giới, một đất nước tham lam chỉ nhăm nhăm việc buôn bán kiếm lời. Madison cũng có thành kiến đối với nhà nước tôn giáo một nhà thờ và mối đe doạ của chính thể quân chủ.

Trong phiên họp Quốc hội đầu tiên năm 1789, Madison đã đề xuất một dự luật thuế chuyên chở hàng hải có phân biệt đối xử chống lại các nước không có hiệp định buôn bán với Mỹ, chủ yếu là nhằm vào Anh, trả đũa việc nước này thông qua các đạo luật hạn chế việc buôn bán của Mỹ ở vùng Tây Ấn và việc nước Anh từ chối trao trả các pháo đài miền Tây Bắc.

Đạo luật này cũng hạn chế nhập khẩu một số hàng hoá xa xỉ từ Anh, đang buộc những người dân Mỹ thêm ràng buộc vào mẫu quốc. Thay vào đó, Madison muốn xây dựng một liên minh vững chắc hơn với kẻ thù của Anh, đó là nước Pháp.

Ngoại trưởng Mỹ khi đó, Jefferson cũng cùng quan điểm như vậy. Jefferson từng là Công sứ tại Pháp rất thân thiện với hệ thống chính trị Pháp. Ông tin rằng, liên minh Pháp-Mỹ từng có trước đây trong cuộc chiến với Anh cần phải được duy trì và củng cố. Một quốc gia của những nhà tư tưởng "Thế kỷ ánh sáng" tất yếu sẽ mang lại nhiều điều tốt đẹp cho xã hội.

Nhưng theo quan điểm của Hamilton, liên minh Pháp-Mỹ sẽ phá hỏng mối quan hệ với nước Anh và sẽ là thảm hoạ đối với chương trình kinh tế mà ông đang theo đuổi. Hamilton cũng đồng ý với Madison rằng, do Mỹ là nơi tiêu thụ chủ yếu các hàng hoá của Anh nên sự buôn bán giảm sút sẽ gây tổn hại cho Anh nhiều hơn là cho Mỹ. Chính ông cũng đã từng áp dụng quan điểm đó để bảo vệ các biện pháp của Đại hội thuộc địa ngay từ năm 1774.

Nhưng mặt khác, Hamilton thấy rằng chiến lược của Madison sẽ gây tổn hại nghiêm trọng cho những mục tiêu ngắn hạn của ông, trong đó có việc giảm mạnh các nguồn thu ngân sách từ thuế nhập khẩu. Như vậy, để bù đắp cho các khoản thiếu hụt đó, chính phủ buộc phải đánh thuế vào những mặt hàng khác đang rất cần thiết cho nền kinh tế Mỹ.

E sợ về những hậu quả cuộc chiến tranh thương mại với Anh, Hamilton tiến hành hàng loạt những cuộc họp với Beckwith, phái viên Anh tại Mỹ và sau đó là với George Hammond, viên Công sứ Anh, với mong muốn cải thiện mối quan hệ Mỹ-Anh nhằm tiến tới ký được một hiệp định thương mại song phương giữa hai nước. Những cuộc tiếp xúc này diễn ra bí mật mà không hề có sự tham gia của Bộ trưởng Ngoại giao.

Bên cạnh đó, Hamilton lại chọn lọc những thông tin từ phía các viên chức Anh để báo cáo Washington. Điều đó là không thể chấp nhận được với phe Cộng hoà. Năm 1792, Jefferson đã vận động Washington ngăn cấm Hamilton tiến hành những nỗ lực của bản thân nhằm đảm bảo thiết lập một liên minh bền vững với Anh.

 Vì vậy mối quan hệ giữa hai quốc gia càng trở nên tồi tệ song Hamilton vẫn kiên trì bảo vệ quan điểm xây dựng mối quan hệ thân thiện với Anh. Nhưng mãi tới năm 1795, ông mới đạt được mục tiêu của mình bằng Hiệp ước Jay đầy tranh cãi.

Sự e dè của Hamilton về một liên minh với Pháp càng tăng thêm khi cuộc Cách mạng Pháp nổ ra, lúc này đang được chào đón và ca ngợi trên khắp nước Mỹ. Đối với dân chúng Mỹ, những người từng tiến hành một cuộc cách mạng hình mẫu trước đó nhìn nỗ lực của nhân dân Pháp trong một cuộc cách mạng tương tự với những tình cảm thân thiện và nồng thắm. Jefferson, từng sống ở Paris trong những ngày đầu của cuộc Cách mạng Pháp coi đó như lời biểu thị cuộc cách mạng trong tình cảm của con người từng được người Mỹ khơi dậy.

 Một lý do khác cho sự ủng hộ nhân dân Pháp đó là nước Mỹ muốn đáp lại sự giúp đỡ của nước Pháp trước đây bằng một sự ủng hộ tương tự.

Lúc đầu, hầu như Hamilton hoàn toàn đơn độc khi ông phản đối những sự kiện đang diễn ra ở Pháp. Tin tức về sự ngông cuồng và thái quá của những sự kiện ở Pháp lan tới nước Mỹ càng làm viên Bộ trưởng Tài chính nghi ngờ về những hậu quả của cuộc cách mạng này.

Khi những sự kiện đó lan rộng, ông viết cho Washington năm 1790 rằng “Cuộc Cách mạng này sẽ không thể mang lại trật tự và sức mạnh cho nước Pháp trong thời gian tới”. Ông không nhìn thấy ở nước Pháp nền tảng đúng đắn và hợp lý như đã từng làm nên cuộc Cách mạng Mỹ trước đó.

Những mối lo ngại của Hamilton dần dần trở nên rõ ràng và chính xác hơn khi nước Pháp liên tục thay đổi từ chế độ quân chủ lập hiến sang nền cộng hoà sau sự thoái vị của Nhà Vua, rồi tới chế độ chuyên chế của Uỷ ban Cứu quốc dưới thời Robespiere chỉ trong chưa đầy một vài năm. Ngày 20-6-1792, dân chúng Pháp lại nổi dậy đánh chiếm cung điện Tuylơri. Ngày 10-8-1792, nền quân chủ Pháp bị lật đổ, vua Louis XVI bị tống khỏi ngai vàng, đồng thời Hội đồng Cách mạng lâm thời được thành lập.

Ngày 21-9-1792, Hội nghị Lập hiến tại Pháp tiến hành, dựng nên nền Cộng hoà Đệ nhất. Ngày 21-2-1793, Vua Louis XVI bị hành hình nhưng tới tháng 3-1793, tin tức này mới lan sang Mỹ. Ngay sau đó, tháng 4-1793, Pháp tuyên chiến với Anh, Hà Lan và Tây Ban Nha. Những sự kiện liên quan đến cuộc cách mạng đầu năm 1793 nhanh chóng làm cho cuộc khủng hoảng Pháp trở thành một cuộc khủng hoảng của chính nước Mỹ.

NGUYỄN CẢNH BÌNH

NGUYỄN CẢNH BÌNH
Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất