06/09/2010 12:57 GMT+7

Buổi sáng thứ tư (tt)

ARAVIND ADIGA
ARAVIND ADIGA

TTO - Xin mạn phép dành một khoảnh khắc quay trở lại tấm áp phích TRUY NÃ đó, thưa ngài. Bị gọi là kẻ giết người: ổn thôi, tôi không phản đối gì cả. Đó là sự thực: tôi là kẻ tội đồ, một người mất nhân tính. Nhưng bị cảnh sát gọi là kẻ giết người!

2m1n0efK.jpgPhóng to
TTO - Xin mạn phép dành một khoảnh khắc quay trở lại tấm áp phích TRUY NÃ đó, thưa ngài. Bị gọi là kẻ giết người: ổn thôi, tôi không phản đối gì cả. Đó là sự thực: tôi là kẻ tội đồ, một người mất nhân tính. Nhưng bị cảnh sát gọi là kẻ giết người!

Nghe mà đ. chịu nổi.

Đây là món quà lưu niệm nho nhỏ cho ngài trong chuyến thăm Ấn Độ. Balram Halwai là một gã đã biến mất, một kẻ đào tẩu, một người mà hành tung không cảnh sát nào hay biết, đúng không?

Ha!

Cảnh sát biết chính xác phải tìm tôi ở đâu. Họ sẽ tìm thấy tôi đang nghiêm túc bỏ phiếu trong ngày bầu cử tại điểm bỏ phiếu ở trường học trong làng Laxmangarh thuộc huyện Gaya, như tôi đã làm trong mỗi kì bầu cử cấp địa phương, tiểu bang và tổng tuyển cử kể từ khi tôi mười tám tuổi. Tôi là cử tri trung thành nhất Ấn Độ, ấy vậy mà tôi vẫn chưa biết bên trong phòng bỏ phiếu nó ra làm sao.

Giờ thì, mặc dù sắp có bầu cử ở Dhanbad, cuộc sống vẫn tiếp diễn như thường lệ bên trong bốn bức tường của nhà lão Cò. Lão thở dài khi đôi chân bị nhấn vào nước ấm; trò chơi cricket và cầu lông vẫn diễn ra xung quanh lão; còn tôi thì vẫn tận tình tắm rửa sạch sẽ cho hai con chó Pomeran.

Rồi một ngày nọ, một khuôn mặt quen thuộc xuất hiện tại cổng. Vijay, tay bán vé xe buýt từ Laxmangarh. Người anh hùng trong tuổi thơ tôi và lần này, trong một bộ đồng phục mới. Y mặc toàn đồ trắng, đội một chiếc mũ Nehru trên đầu, nhẫn vàng ròng đeo kín mít tám ngón tay!

Dịch vụ công quả là một công việc béo bở đối với y. Tôi đứng chờ ở cổng và nhìn theo. Lão Cò đích thân ra tiếp Vijay, và cúi mình trước y - một địa chủ cúi mình trước con trai người chăn lợn! Sự kì diệu của nền dân chủ! Hai ngày sau, đảng viên Đại Xã hội đến nhà. Cả nhà nhặng lên vì cuộc thăm viếng này. Ông Ashok đứng ở cổng, chờ đợi với vòng hoa nhài. Anh trai và bố ông ta đứng cạnh.

Một chiếc xe ô tô trờ đến cổng, cửa xe mở ra, và rồi khuôn mặt mà tôi đã nhìn thấy trên triệu tấm áp phích bầu cử kể từ khi tôi còn bé xuất hiện - tôi trông thấy đôi má phúng phính, mái tóc bạc trắng tua tủa, đôi hoa tai dày cộm bằng vàng. Hôm nay Vijay đeo dây quấn đầu màu đỏ, và cầm cờ với biểu tượng phá-gông-cùm. Y hô vang, “Đảng viên Đại xã hội muôn năm!”

Con người vĩ đại chắp tay cúi chào xung quanh. Ông ta có nét mặt năm mươi/ năm mươi mà mọi chính trị gia vĩ đại ở Ấn Độ đều có. Khuôn mặt này hàm ý giờ đây nó đang yên bình - và ngài cũng sẽ bình yên nếu ngài tuân theo người chủ khuôn mặt ấy. Nhưng cùng một khuôn mặt có thể nói lên, với một chút thay đổi biểu hiện, rằng nó đã biết mặt trái của yên bình: và nó cũng có thể biến vận mệnh đối lập ấy thành vận mệnh của ngài, nếu nó muốn. Ông Ashok đeo vòng hoa qua chiếc cổ dày như cổ bò của vĩ nhân.

“Con trai tôi đấy ạ,” lão Cò nói. “Mới về từ Mỹ.”

Đảng viên Đại Xã hội bẹo má ông Ashok. “Tốt. Chúng ta cần thêm nhiều trai tráng trở về và xây dựng Ấn Độ thành một siêu cường.”

Rồi sau đó họ đi vào nhà, mọi cánh cửa chính lẫn cửa sổ được đóng kín. Sau một lúc, đảng viên Đại Xã hội bước ra sân, nối gót theo sau là lão già, Cầy Mangut và ông Ashok. Tôi đã cố nghe lỏm họ, giả vờ quét sân trong lúc tiến sát dần đến họ. Tôi đang vừa quét vừa nhích lại đến khoảng cách vừa đủ nghe thì bị đảng viên Đại Xã hội vỗ vào lưng.

“Con tên gì, con trai?” ông ta hỏi.

Rồi ông bảo, “Chủ con đang định chơi xỏ ta, Balram. Con nói sao về chuyện này?”

Ông Ashok trông sững sờ. Lão Cò cười cầu tài.

“Một triệu rưỡi thì nhiều quá, thưa ngài. Chúng tôi sẽ rất vui lòng thỏa thuận với ngài ạ.”

Đảng viên Đại Xã hội phẩy tay ra chiều gạt bỏ lời thỉnh cầu đó.

“Rõ thối. Ông đang vớ bẫm ở đây còn gì - khai thác than đá miễn phí từ mỏ than của chính phủ. Ông làm ăn trót lọt là nhờ tôi nhắm mắt làm ngơ. Lúc tôi tìm thấy ông, ông chỉ là một tay địa chủ làng cóc ké mà thôi - tôi đã đưa ông đến đây - tôi đã làm cho ông có được ngày nay: vậy mà thề có Chúa, ông chơi ba que xỏ lá, tôi sẽ tống ông về cái làng đấy. Tôi nói một triệu rưỡi con mẹ nó, tức có nghĩa là một triệu với…”

Ông ta phải dừng lại - ông ta đang nhai trầu, giờ thì nước cốt trầu ngập trong miệng đang bắt đầu rỉ ra. Ông ta quay qua tôi khum hai tay làm thành hình chiếc bát. Tôi lao về phía chiếc Honda City để lấy cái ống nhổ. Khi tôi trở lại với cái ống nhổ, ông ta lạnh lùng quay sang Cầy Mangut bảo, “Con trai, con cầm cái ống nhổ cho ta một chút nhé?”. Cầy Mangut chẳng chịu nhúc nhích, vì thế đảng viên Đại Xã hội đón cái ống nhổ từ tay tôi và chìa nó ra.

“Cầm đi nào, con trai.”

Cầy Mangut cầm lên. Sau đó đảng viên Đại Xã hội nhổ vào cái ống, ba lần. Đôi tay Cầy Mangut run bần bật, mặt trắng bệch vì ngượng. “Cám ơn nhé, con trai,” đảng viên Đại Xã hội vừa nói vừa lau mép. Ông ta quay sang tôi và gãi trán. “Ta nói đến đâu rồi nào?”. Mãn nguyện rồi nhé. Đấy chính là mặt tích cực của đảng viên Đại Xã hội. Ông ta làm bẽ mặt toàn thể chủ nô của chúng tôi - vì thế mà chúng tôi cứ bỏ phiếu chọn ông ấy.

Đêm hôm đó, tiếp tục dàn cảnh quét sân, tôi tiến đến sát bố con lão Cò; họ đang ngồi trên băng ghế, cầm những chiếc ly thủy tinh đựng chất lỏng màu vàng và bàn bạc. Ngài Mukesh vừa dứt lời; ông già đã lắc đầu.

“Chúng ta không thể làm thế, Mukesh ạ. Chúng ta cần hắn.”

“Con bảo bố này. Bây giờ chúng ta đâu cần hắn nữa. Ta có thể đi thẳng đến Delhi. Hiện ta đã có mối mang ở đấy cả rồi.”

“Con đồng ý với anh Mukesh, thưa bố. Chúng ta không thể để hắn đối xử với mình như thế này nữa - làm như chúng ta là đầy tớ của hắn vậy.”

“Im nào, Ashok. Để Mukesh và ta bàn chuyện.”

Tôi quét sân những hai lần và dỏng tai nghe ngóng. Đoạn tôi căng lại tấm lưới cầu lông đã chùng của bà Pinky để có thể đứng gần họ.

Nhưng cặp mắt ngờ vực Nepal đã phát hiện ra tôi: “Đừng bén mảng vào sân. Đi về phòng ngồi chờ ông chủ gọi.”

“Được thôi.”

Ram Bahadur liếc tôi, nên tôi đành nói, “Được thôi, thưa ông.”

(Những kẻ hầu người hạ thường vô tình bị ám ảnh với việc được đầy tớ khác gọi bằng “ông”, thưa ngài.)

Sáng hôm sau, tôi đang sấy lông cho Puddles và Cuddles sau khi đã tắm gội cho chúng, thì Ram Bahadur đến trước tôi hỏi, “Mày có bao giờ đến Delhi chưa?”. Tôi lắc đầu.

“Một tuần nữa họ sẽ đi Delhi. Ông Ashok và bà Pinky. Họ sẽ đến đấy trong ba tháng.”

Tôi quỳ xuống, chĩa chiếc máy sấy xuống dưới chân Cuddles, vờ như không quan tâm, rồi cố tỏ ra thật bình thản hỏi, “Tại sao?”. Ông già Nepal nhún vai. Ai mà biết? Ta chỉ là kẻ hầu người hạ thôi mà. Tuy nhiên, có một điều ông ta biết rõ.

“Chỉ một tài xế được đi theo. Và người này sẽ được trả ba nghìn rupee một tháng - đó là số tiền họ sẽ trả tại Delhi”. Chiếc máy sấy rơi khỏi tay tôi. “Thật không? Ba nghìn?”

“Ừ.”

“Liệu họ có đưa con đi cùng không, thưa ông?” Tôi đứng dậy khẩn khoản hỏi. “Ông làm sao để họ chọn con được không?”

“Họ sẽ chọn Ram Persad,” ông ta nhếch đôi mép Nepal của mình. “Trừ phi…”

“Trừ phi?”

Ông ta xoa xoa ngón tay ra dấu đếm tiền. Năm nghìn rupee – và ông ta sẽ bảo với lão Cò nên chọn tôi đi Delhi.

“Năm nghìn - con đào đâu ra ngần ấy tiền? Nhà con vét sạch tiền lương của con rồi!”

“Ái chà. Nếu thế thì Ram Persad sẽ đi. Còn mày” - ông ta chỉ vào Cuddles và Puddles - “sẽ suốt đời tắm chó thôi, con ạ.”

Tôi choàng tỉnh, hai lỗ mũi nóng ran. Trời vẫn còn tối. Ram Persad đã thức giấc. Hắn đang ngồi trên giường, thái hành tây trên tấm thớt gỗ: tôi nghe tiếng dao chạm vào thớt tách, tách, tách. Hắn ta thái hành sớm thế làm cái quái gì nhỉ? Tôi nghĩ ngợi, xoay người sang bên nhắm mắt lại. Tôi muốn ngủ tiếp, song tiếng dao chạm vào thớt tách, tách, tách nhấn mạnh một điều:

Con người này có một bí mật. Tôi tỉnh ngủ, trong khi gã này ngồi trên giường thái hành. Tôi thử tìm hiểu sự việc. Tôi nhận thấy gì ở Ram Persad trong mấy ngày gần đây?

Có một điều, hơi thở của hắn đã trở nên nồng nặc hơn. Ngay cả bà Pinky cũng than phiền. Hắn đột nhiên không ăn cùng chúng tôi nữa, trong nhà lẫn bên ngoài. Thậm chí vào ngày chủ nhật, khi có món gà, Ram Persad cũng không chịu ăn chung, viện cớ đã ăn rồi, hoặc là không đói, hoặc… Vẫn tiếp tục thái hành, còn tôi nghĩ ngợi miên man trong đêm tối. Tôi quan sát hắn cả ngày. Đến tối, như tôi dự đoán, hắn tiến về phía cổng.

Sau khi dò la người đầu bếp, tôi biết được rằng Ram Persad dạo này tối nào cũng đi ra khỏi nhà vào cùng một thời điểm. Tôi đi theo ở một cự li nhất định. Hắn đi vào một khu ở thành phố mà tôi chưa từng thấy, băng qua vài con ngõ. Có lúc tôi rõ ràng thấy hắn quay người lại, như thể để đảm bảo không có ai theo sau; rồi hắn chạy như bay.

Hắn dừng chân trước một tòa nhà hai tầng. Trên tường có một lớp lưới kim loại chia thành những ô vuông; một dãy vòi nước màu đen thò ra từ bức tường bên dưới tấm lưới. Hắn cúi xuống một cái vòi, rửa mặt, súc miệng và xối nước. Rồi hắn tháo giày. Giày dép được xếp lại nhét vào các ô vuông trên tấm lưới - hắn cũng làm thế với đôi giày của mình. Đoạn hắn đi vào trong tòa nhà và đóng cửa lại.

Tôi vỗ trán. Tôi mới ngốc làm sao! “Là tháng Ramadan! Họ không được ăn uống gì suốt cả ngày”. Tôi chạy về nhà đi tìm ông quản gia người Nepal. Ông ta đang đứng ở cổng, dùng một nhánh cây neem gãy để chà răng - thói quen của nhiều người nghèo trên đất nước tôi khi họ muốn làm sạch răng, thưa ngài thủ tướng.

“Con mới xem một bộ phim, thưa ông.”

“Biến đi.”

“Một phim hay lắm ông ạ. Có nhiều màn nhảy múa. Nhân vật anh hùng là một người Hồi giáo. Tên là

Mohammad Mohammad.”

“Đừng làm mất thì giờ của tao, nhóc con. Nếu không có gì làm thì đi lau xe đi.”

“Cái gã Mohammad Mohammad này là một người Hồi giáo nghèo khổ, thật thà, siêng năng, nhưng gã ta lại muốn làm việc trong nhà của một địa chủ độc ác, vốn không thích tín đồ Hồi giáo - vì thế, để có việc làm nuôi sống gia đình đang chết đói của mình, hắn nói mình là tín đồ Ấn Độ giáo! Và lấy tên là Ram Persad”. Nhánh cây rơi khỏi cái miệng Nepal.

“Và ông biết nhờ đâu hắn đã làm trót lọt vụ này không? Vì ông quản gia người Nepal ở ngôi nhà này, một người được chủ tin cậy tuyệt đối, một người có nhiệm vụ kiểm tra nhân thân của Ram Persad, đã đồng lõa trong vụ lừa bịp này!”

Trước khi ông ta kịp chạy, tôi túm cổ áo ông ta. Về mặt kĩ thuật, trong những sự vụ người-hầu-với-nhau thế này, đó là tất cả những gì ngài cần làm để nói lên: “Tao đã thắng.” Nhưng nếu ngài định làm như thế, tốt hơn hết là làm cho ra trò, đúng không? Vì thế, tiện tay, tôi tát ông ta. Từ giờ phút đó, tôi là đầy tớ số một trong ngôi nhà này.

Tôi chạy trở lại đền thờ Hồi giáo. Namaz giờ này hẳn đã kết thúc. Và quả thực, Ram Persad - hay Mohammad hay bất kể tên thật của hắn là gì - đã rời đền, lấy giày từ khung cửa sổ, vỗ vỗ xuống đất, xỏ chân vào, và bắt đầu bước đi. Hắn trông thấy tôi - tôi nháy mắt với hắn - và hắn biết cuộc chơi đã kết thúc.

Tôi đã làm những việc cần thiết chỉ trong vài từ ngắn ngủi.

Sau đó tôi trở về nhà. Ông quản gia Nepal đứng sau song sắt đen dõi theo tôi. Tôi lấy xâu chìa khóa của ông ta cho vào túi mình. “Pha cho tôi ít trà. Và một ít bánh bích quy.” Tôi nhón chiếc áo sơ mi ông ta đang mặc. “Tôi cũng muốn bộ đồng phục của ông nữa. Bộ của tôi cũ rồi.”

Đêm hôm ấy tôi ngủ trên giường.

Buổi sáng, có người vào phòng. Đó là cựu tài xế số một. Lẳng lặng không nói, hắn bắt đầu thu dọn. Tất cả đồ đạc gói gọn vào một chiếc túi nhỏ.

Tôi nghĩ ngợi, Cuộc đời hắn mới khổ sở làm sao, phải giấu giếm tín ngưỡng, tên tuổi của mình chỉ để xin được một chân tài xế - mà hắn quả là tài xế giỏi, miễn bàn, cả đời mình cũng không bằng nổi hắn. Một phần trong tôi muốn ngồi dậy xin lỗi hắn ngay tại đấy và nói, Anh đi mà làm tài xế ở Delhi. Anh có làm gì hại đến tôi đâu. Tha thứ cho tôi nhé, ông anh.

Tôi quay sang bên kia, đánh rắm một phát, rồi ngủ tiếp.

Khi tôi tỉnh dậy, hắn đã ra đi - hắn để lại tất cả hình ảnh các vị thần, và tôi gom chúng nhét vào giỏ. Ai mà biết nhỡ sau này có khi cần đến.

Buổi tối, ông quản gia Nepal đến chỗ tôi với nụ cười cầu cạnh trên mặt - y hệt kiểu cười đầy tớ mà ông ta đã trưng ra với lão Cò suốt cả ngày. Ông ta nói rằng, vì Ram Persad đã bỏ làm không nói một lời, nên tôi sẽ lái xe đưa ông Ashok và bà Pinky đi Delhi. Ông ta đã tự nguyện - và nhiệt tình - đề xuất tên tôi với lão Cò.

Tôi trở lại giường của mình - bây giờ tất cả đã là của tôi - duỗi thẳng chân trên đó và nói, “Hay quá. Giờ thì ông quét mấy cái mạng nhện trên trần nhà đi, được không?”

Ông ta lườm tôi, chẳng ừ hữ mà đi lấy chổi. Tôi hét to:

“Thưa ông ạ!”

Kể từ đó, mỗi buổi sáng, luôn có trà Nepal nóng và một ít bánh quy đường thơm ngon, bày trên một chiếc đĩa bằng sứ.

Anh Kishan đến cổng vào Chủ nhật hôm ấy và nghe được tin từ tôi. Tôi cứ ngỡ anh đến để xài xể tôi vì cái tội bỏ làng đi đột ngột, nhưng không ngờ anh lại sung sướng quá đỗi - nước mắt anh chảy đầm đìa. Vậy là gia đình anh sắp có người thoát khỏi Bóng tối để đến New Delhi!

“Thật đúng với những gì mẹ luôn nói. Mẹ biết em sẽ làm được.”

Hai ngày sau, tôi lái xe chở ông Ashok, Cầy Mangut và bà Pinky đến Delhi trên chiếc Honda City. Không khó tìm đường đi - tôi chỉ cần theo sau những chiếc xe buýt. Vì xe buýt và xe jeep chạy đầy đường - muốn nổ tung với hành khách chen chúc bên trong, đeo bám ngoài cửa xe, thậm chí ngồi cả trên nóc. Tất cả họ đều đi từ Bóng tối đến Delhi. Ngài trông mà cứ ngỡ cả thế giới đang di cư.

Mỗi lần vượt qua một chiếc xe buýt thế này, tôi lại mỉm cười khoái trá; tôi ước gì mình có thể hạ kính xe xuống và hét lên với họ, Tao đang đến Delhi bằng ô tô đây này - ô tô có điều hòa hẳn hoi nhá! Nhưng tôi chắc họ nhìn thấy ngôn từ trong mắt tôi.

ARAVIND ADIGA
Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất