13/04/2010 10:30 GMT+7

Ao cũ vườn xưa

PHƯƠNG QUYÊN (Tokyo)
PHƯƠNG QUYÊN (Tokyo)

AT - Nhận mớ tiền thối mà chú xe ôm trao, tôi ngơ ngác thấy nhà mình đông người đến lạ. Mẹ tôi đang lui cui bưng một ca nước đá to sụ từ dưới nhà lên, trông thấy tôi thì sửng sốt:

fWJ2yxXA.jpgPhóng to
Minh họa: Ngô Vũ Hà My

- Ủa con mới về hả? Hổng điện thoại báo mẹ trước gì hết!

Tôi chào mẹ, rồi trỏ đám đông ngoài vườn, không nén nổi tò mò:

- Ai ngoài kia mà đông vậy mẹ?

- Đám cưới anh Năm! Mọi người chặt đủng đỉnh dựng rạp. Toàn thanh niên xóm mình chứ ai!

- Đám cưới anh Năm? Thiệt hả mẹ?

- Ai lại đi giỡn mấy chuyện này! Đi cho lắm, không còn quan tâm ai hết trơn! Vô cất balô đi rồi qua bển thắt cào cào treo rạp với mấy đứa. Tụi nó mới nhắc phải chi có con ở nhà!

Rồi mẹ bưng ca nước ra vườn.

Đã lâu lắm tôi không gặp anh Năm. Tại vai vế vậy chứ anh chỉ kém mẹ tôi sáu bảy tuổi. Hồi nhỏ, tôi cứ trốn mẹ cùng với Hảo, cháu kêu anh Năm bằng chú ruột, theo anh đi câu cá. Hai đứa con gái bé loắt choắt, lúp xúp bưng thùng, xách mồi, tranh nhau cái bóng cao lớn của anh để tránh nắng. Thấy vậy, lúc đi qua ao sen, anh bẻ hẳn mấy tàu lá to nhất, lành nhất trao cho tụi tôi làm dù. Dưới những tàu lá sen ấy, trông chúng tôi như hai con ếch con lạch bạch lội bùn. Nhưng anh có đuổi mấy cũng không đứa nào chịu về.

Những con cá rô mề béo nục, bóng nhẩy lấp lóa dưới nắng chiều; những con cá trê trơn nhớt, uốn éo mình như múa; những buổi câu cá hấp dẫn hơn nhiều so với việc ngủ trưa, nhất là lúc nào trên tay cũng sẵn một cái gương sen đầy hạt mà anh Năm tiện thể bẻ cho chúng tôi lúc đi ngang ao làng. Nhưng tôi không mê những hôm đi câu cá lóc chút nào. Phát hiện bầy ròng ròng, cách dân quê tôi gọi những con cá lóc mới nở, người ta mua ngay một chú vịt con, loại vịt dạt, tật nguyền, bán rẻ ngoài chợ, cột vào dưới chân nó một cái lưỡi câu, chẳng cần mồi gì, cứ thế thả con vịt xuống nước, chỗ bầy cá con, trêu ngươi hai con cá bố mẹ. Bảo vệ con mình, các bậc phụ huynh vội vã đến xua mối hiểm họa ấy đi. Thế là mắc bẫy.

Câu cá lóc phải kiên nhẫn lắm, mà anh Năm thì như được sinh ra để câu loại cá này vì anh thừa kiên nhẫn. Nhưng tôi với Hảo thì vẫn thường nhăn mặt bảo: "Ác quá, tội nghiệp tụi ròng ròng mất mẹ, tội nghiệp cả con vịt con đang sợ rụng tim nữa!". Những buổi anh Năm đi câu cá lóc, dù không thích, nhưng để trốn ngủ trưa, tôi vẫn cùng Hảo đi theo. Tuy nhiên, trong lúc anh ngồi như bức tượng Người suy tư thì bọn tôi chạy đi hái cỏ gà đá nhau túi bụi.

Lúc nào tôi cũng hái được nhiều gà "gộc" hơn nhưng hiếm khi tôi thắng. Anh Năm bảo tại tôi tham gà đầu bự mà không chịu lựa cọng lớn, lựa toàn mấy "ông vua già” mà bỏ qua "bầy tướng trẻ”. Nhưng tôi mãi vẫn không nhớ được bài học ấy, cứ thấy "mũ mão đề huề" là chộp ngay. Còn bây giờ quê tôi đâu còn cỏ gà nữa để tôi làm lại những trận đấu quyết liệt với Hảo! Mà Hảo cũng không còn như xưa, chạy tung tăng theo tôi, gọi "Cô Diễm! Cô Diễm!" um trời, dù nó chỉ kém tôi một tuổi.

Nhà anh Năm sát ngay sau hè nhà tôi nên để dễ qua mượn bàn ghế, xoong nồi làm đám. Một khoảng hàng rào cây cẩm thạch bị đạp bẹp không thương tiếc. Những cây cẩm thạch ấy làm tôi nhớ có lần bọn tôi, tức tôi, Hảo và Hoa, ba đứa thân nhất xóm, bày trò làm nhà xây bếp, đã đốt trụi cả một đoạn hàng rào mà anh Năm làm bằng những cành tre khô. Sau đó, khi đã no đòn, cả ba đứa tức tưởi làm lại đoạn hàng rào với anh Năm. Anh lắc đầu:

- Quá xá! Xóm này không có thằng con trai nào quậy bằng ba con le le tụi bây!

Nói vậy chứ anh Năm cũng biết ý tụi tôi lắm. Anh dùng những cây cẩm thạch mọng nước, "vật liệu chống cháy", để trồng vào cái đoạn "dễ xảy ra hỏa hoạn". Anh còn chỉ dẫn cách đặt ba cục gạch "bếp" của tụi tôi sao cho tránh gió tạt.

Sự vồn vã mà mọi người dành cho tôi làm tôi sực nhớ đã rất lâu, rất lâu rồi mình mới lại về quê. Đúng là không có nơi nào ấm áp bằng nơi mà mình gắn bó cả tuổi thơ. Sau khâu chào hỏi, tôi lẩn ngay sang khoảng sân trong vườn kiểng nhà anh Năm. Đám con nít đang ở đó thắt lá dừa trang trí.

- Diễm về kìa tụi bây!

- Chị Diễm!

Đám nhóc lúc nào cũng ồn ào, tụi nó là hình ảnh của bọn tôi ngày trước. Tôi đưa mắt tìm Hảo. Nãy giờ nó vẫn ngồi im lặng dưới một cội bông giấy tím ngát, bên cạnh là một chú nhóc khoảng hai tuổi, bụ bẫm, đôi mắt sáng ánh lên sự thông minh.

- Ê, im lặng vậy nhỏ!

Hảo ngẩng mặt nhìn tôi, nở một nụ cười hiền lành, nụ cười làm tôi đau! Nó đã cùng lớn lên với tôi, cùng tôi quậy phá, cùng tôi học hành, đùng một cái nó bỏ học lấy chồng. Tất cả xảy ra trong một thoáng ngơ ngác của cả tôi lẫn Hoa, rồi khi hai đứa tôi kịp nắm bắt sự việc thì Hảo sinh con. Đáng ra ở tuổi Hảo, người ta đang hồn nhiên cùng bạn bè nơi giảng đường đại học.

- Cô Diễm về chơi lâu hôn?

- Cũng hổng lâu, chiều mai lên rồi.

- Bin, thưa bà đi con!

Tôi nghe thằng bé thưa, vừa buồn cười vừa thấy... sợ! Nó nghịch không kém gì mẹ nó ngày xưa.

Dưới bàn tay thành thục của những thanh niên khỏe mạnh xóm tôi, cái rạp cưới hoàn thành khi mặt trời còn đang lơ lửng, lưỡng lự giữa ở lại và trở về ngôi nhà yên tĩnh phía Tây.

Không có những bông hoa giả rực rỡ và những dãy đăngten nhiều màu sắc, không có những tấm rèm kết ngọc như những cái rạp cưới trên phố, chỉ có những cây tầm vông suôn thẳng làm trụ, làm giàn. Nóc rạp là những tấm phủ mà nhà nào cũng có. Vào mùa gặt, chúng được dùng để đậy lúa trên sân. Vách rạp được bện bằng những tàu lá dừa xanh mướt, mỡ màng sức sống một góc đồng bằng sông Cửu Long.

Những tàu đủng đỉnh xanh thẫm, lá hình tam giác có răng cưa như đuôi chim rẽ quạt, được kết dọc theo thân tầm vông, ôm vào bẹ dừa rất khéo. Mấy con chim, cào cào lá dừa, cả những con chim béo tròn làm bằng trái chuối sống, ớt và lá đủng đỉnh cũng được treo lên. Chúng đung đưa một cách sung sướng theo nhịp đẩy của gió từ cánh đồng vàng thổi vào. Phần đặc sắc nhất chính là chiếc cổng. Hai thân chuối trơn bóng đứng hai bên, lại vẫn là lá đủng đỉnh và lá dừa, nhưng còn có cả lá dừa nước.

Lá dừa nước non màu trắng ngà với viền mép xanh non, được uốn thành những cánh hoa, ôm thân chuối, còn đẹp hơn bất kỳ bông hoa hồng, hoa cúc nào. Với ý nghĩa "con đàn cháu đống", hai quày đủng đỉnh đương ra trái non cỡ đầu ngón tay út được treo hai bên, chúng lòa xòa như một bức rèm. Ở giữa chiếc cổng là tấm bảng "Tân hôn" đỏ thắm. Chỉ duy nhất cái này là phải mướn. Rạp cưới vậy đó, ngát một màu xanh của cây lá, màu xanh hiền lành, hồn hậu, màu của tâm hồn con người quê tôi.

Cả đêm hầu như không ai ngủ. Anh Năm cứ lui cui sửa cho ngay nếp bộ vest trắng của chú rể mà anh mới thuê ngoài chợ. Bắt gặp ánh nhìn của tôi, anh gãi đầu cười hiền:

- Hơn nửa đời người làm rể phụ cho người ta, giờ mới tới mình làm rể chính nên chăm chút một tí.

Tôi cười mà thương anh đứt ruột. Hồi đó, anh với một chị xã bên quen nhau, nghe đâu cũng mặn mà lắm nhưng gia đình chị chê anh nghèo, không có nghề nào cho ra hồn, chỉ biết trồng cải với câu cá, lại không biết chữ, vậy là họ xa nhau. Sau bận đó, anh uất ức học chữ cho bằng được. Anh mượn cuốn vần của bé Hảo, không dám học ở trong nhà, anh ra ngoài vườn, trèo tuốt lên cây me ngồi học. Vậy mà cũng bị một thằng nhóc nghịch ngợm bắt gặp, nó đi bêu rếu khắp làng như thể đó là một tin động trời. Anh mắc cỡ, trốn biệt cả tuần. Những ngày đó, chỉ có tôi và Hảo biết anh ở đâu.

Con người ta lạ vậy đó, cực khổ, đau đớn sao cũng chịu được, chỉ có mỗi cái "cục tự ái" là không chế ngự được mà thôi. Đôi lúc "cục tự ái" to quá, lấn cả lý trí. Nhưng cuối cùng anh Năm cũng biết đọc biết viết, mỗi tội chị thì đi lấy chồng tự bao giờ.

Tôi giúp dì Hai, má của anh Năm, kiểm tra lại một lần nữa mấy mâm quả phủ vải đỏ, có thêu chữ "Song hỉ” thiệt lớn bằng chỉ vàng. Đây không phải lần đầu dì dựng vợ gả chồng cho con, nhưng anh Năm đã ở cái tuổi bốn mươi lăm, cưới được một người vợ biết lo làm ăn, làm dì vui không tả xiết. Ánh mắt của dì, giọng nói của dì không giấu được điều đó.

Ngày hôm sau, khi đám rước dâu về, tôi để ý Hảo trong nhóm mấy cô gái. Dáng nhỏ nhắn xinh xắn trong tà áo dài xanh thiên thanh, tóc xõa ngang lưng, gương mặt điểm chút phấn hồng với nụ cười thiếu nữ. Ai đoán được Hảo đã là mẹ của một đứa bé hai tuổi!

Đồ ăn thức dùng trong tiệc cưới là những món được chế biến từ sản vật có sẵn: gà trong vườn, cá dưới ao... Rượu chuối hột nhà tự ngâm thay thế cho các loại bia đắt tiền. Cô dâu đã luống tuổi chỉ có mỗi bộ áo dài đỏ thắm, lớp trang điểm chỉ giấu được phần nào làn da nâu, kết quả của những ngày lam lũ với ruộng đồng, vườn tược. Có một điều thú vị: chú rể phụ của anh Năm không ai khác, chính là thằng nhóc nghịch ngợm năm nào. Mọi thứ đều bình dị hết mức có thể, chỉ có những câu chúc mừng là ấm áp, không có "mùi xã giao" như những đám cưới nhà hàng mà tôi từng dự.

Đám cưới anh Năm, Hoa bận, không về dự được, chỉ có tôi với Hảo. Nhưng tôi cũng không có nhiều cơ hội nói chuyện vì thằng bé hiếu động con Hảo cứ bắt mẹ nó phải chạy theo nó miết. Hảo lại đang đuổi theo để đút cơm cho thằng bé. Ba nó đón được, nhấc bổng lên, không cho nó chạy nữa. Lúc đó nó mới chịu ngồi yên cho mẹ đút cơm. Tiếng mắng yêu con của Hảo, tiếng cười giòn tan của cha con thằng bé làm tôi chợt nhận ra: Hảo đang rất hạnh phúc.

Chiều hôm đó, mẹ chở tôi ra bến xe đi ngang khu vườn chuối, nơi ngày xưa có chiếc chòi nho nhỏ lợp rơm mà anh Năm dựng cho ba đứa tôi, nơi chúng tôi tha hồ bày trò hóa trang, đánh trận mà không sợ người lớn hay lũ con trai tìm thấy; nơi anh đãi bọn tôi món cá nướng trui thơm phức; và cũng là nơi anh chui rúc trong nỗi buồn, trút nỗi lòng vào những nhát dao chuốt tre đan lờ, gặm nhấm nỗi tủi hổ không biết chữ. Tôi nhận ra vườn chuối đã thưa hơn, nhường chỗ cho những liếp dưa, giồng cải... Chỗ cái chòi đồ chơi ọp ẹp của bọn tôi giờ mọc lên một cái chòi lá dừa nước cứng cáp. Tôi như thấy hiện ra trước mắt mình cảnh đôi vợ chồng mới cưới sau một buổi xuống cải, ngồi nghỉ trưa trong cái chòi ấy...

Tất cả đã đổi khác, ngày xưa của tôi không còn nữa nhưng tôi không hối tiếc. Tôi đã được hưởng một thời tuyệt đẹp, được cùng bạn bè ôm trọn vẹn bầu trời xanh, ánh nắng vàng, cỏ cây, lá hoa xứ sở; được anh Năm dạy phải biết yêu thương, trân quý những gì mình đang có. Vậy là quá tuyệt vời rồi.

Đã bao lần Hoa bảo: "Nhớ hồi đó quá, bây giờ ai cũng khác hết, biết chừng nào...". Hoa thường bỏ lửng như vậy, vì nó biết tôi hiểu ý nó. Nhưng tôi lại tự nhủ với mình rằng con người không thể chỉ sống với quá khứ. Tất cả đều đã trưởng thành, chọn cho mình một hướng đi riêng: tôi vào đại học, Hoa tốt nghiệp phổ thông trung học xong, vào làm một chân văn phòng cho một người quen, Hảo lập gia đình. Ngay cả anh Năm, người mà chúng tôi đoan chắc là sẽ không thay đổi gì, cũng đã có một bước tiến lớn. Cuộc đời luôn vận động. Tôi bồi hồi nghĩ rằng không biết mười năm nữa quê mình sẽ như thế nào?

Nhưng đó là chuyện của mai kia. Chuyện cần nghĩ lúc này là kế hoạch tổ chức tiệc tất niên cho lớp. À không, trước hết phải là chuyện ôn thi học kỳ, chuyện nộp hồ sơ xin học bổng du học, rồi chuyện tìm đề tài cho bài báo tường sắp tới nữa...Tôi nhận thấy mắt mình trĩu xuống theo nhịp lắc lư của chiếc xe buýt. Một ao sen và một vườn chuối hiện ra...

HIBHjZEj.jpgPhóng to

Áo Trắng số 6 (ra ngày 1-4-2010) hiện đã có mặt tại các sạp báo.

Mời bạn đọc đón mua để thưởng thức được toàn bộ nội dung của ấn phẩm này.

PHƯƠNG QUYÊN (Tokyo)
Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất