01/11/2008 08:00 GMT+7

Ăn to xái lớn

SƠN NAM
SƠN NAM

TTO - Hôm nay, kẻ viết bài nầy xin mạn phép đề cập tới một tiếng kém văn nghệ, tuy rất phổ biến nhưng chẳng ai dám viết nguyên chữ: Đ.M. Dường như đứng về mặt văn phạm mà xét, nó thuộc vào loại tán thán tự chăng? Nó là tiếng chửi thề, hiền nhân quân tử đều có dịp đem nó ra dùng lai rai.

Xin lỗi các bạn đọc

FGxCHjyU.jpgPhóng to
TTO - Hôm nay, kẻ viết bài nầy xin mạn phép đề cập tới một tiếng kém văn nghệ, tuy rất phổ biến nhưng chẳng ai dám viết nguyên chữ: Đ.M. Dường như đứng về mặt văn phạm mà xét, nó thuộc vào loại tán thán tự chăng? Nó là tiếng chửi thề, hiền nhân quân tử đều có dịp đem nó ra dùng lai rai.

Lần lần, nó mất cả nghĩa đen và nghĩa bóng, trở thành một phát đạn mã tử, một trái lựu đạn khói, một cây pháo tre, một ngọn pháo bông hoặc một tiếng nổ khui chai rượu “sâm banh”! Nó biểu lộ nỗi vui mừng lo sợ, niềm hy vọng cũng như thất vọng... nghĩa là bao hàm nhiều ý nghĩa tương phản. Rốt cuộc, nó chẳng có ý nghĩa gì cả. Vai trò của hai tiếng “Đ.m” chỉ làm để nhấn mạnh, để gạch đít cho câu nói, để lấy hơi gió... khi khai khẩu.

Trong “thời đại nguyên tử”, hai tiếng ấy dường như phổ biến khá nhanh. Phải chăng đó là hình thức đối kháng, phá bỏ những cấm kỵ, công thức luân lý. Giống như thời xưa “nam nữ thọ thọ bất thân”, nhưng vào dịp lễ cúng đình “trong thời trống đánh rập rình, ngoài thì trai gái tự tình cùng nhau” một cách hợp pháp.

Sau một thời gian ăn mặn, thiên hạ cần có dịp uống nước lã cho đã khát. Lẽ dĩ nhiên.

Nhưng việc gì cũng có giới hạn. Dùng “tán thán tự” ấy quá nhiều, người nghe phải bực mình! Song dường như để “tô điểm cho cuộc đời”, thiên hạ lại gọi kẻ ưa chửi thề là kẻ... “xổ nho” hoặc kẻ “xài giấy năm trăm”.

Xổ nho, ngụ ý chống đối luân lý của bọn hủ nho chăng? Điều ấy còn nghi ngờ.

Nhưng “xài giấy năm trăm” quả là ngụ ý khôi hài cho hoàn cảnh “khóc hổ ngươi cười ra nước mắt”, vào đầu năm 1945. Chúng tôi xin đại ngôn gọi đó là hoàn cảnh éo le của lịch sử, thời Nhựt đảo chánh ở rừng U Minh Thượng. Hoàn cảnh đó xin thuật lại như sau:

Trong giấy thuế thân, tên của anh ta là Nguyễn Hùng Dõng nhưng dân ở xóm Tân Bằng, ven rừng U Minh gọi anh ta là thầy giáo Trích, chẳng ai hiểu vì sao!

Thầy giáo Trích đến xóm rẫy Tân Bằng, cứ sống rảnh rang theo kiểu mấy ông tiên ngày xưa đi tiêu dao trên Bồng Lai. Bấy giờ, sau tháng Tết, dân trong xóm rẫy thường đốt đất, đốt rừng. Lửa cháy ngày đêm, đất cháy hóa ra loại phân tro mầu mỡ. Trên nền ấy, họ trồng nào bí rợ, dưa leo. Người nào lười biếng thì cứ để đất “ở vậy”. Họ vẫn hưởng huê lợi lai rai vì mặt đất gọi là hoang vu, nghèo nàn ấy dẫy đầy những bụi khóm (quả dứa). Khóm là loại cây mọc như rừng, lá dày và có gai, đủ sức chống nắng hạn, chẳng cần tưới nước. Nó vươn lên cao khỏi đầu loại dây dớn, giây choại, oai vệ kiêu hùng chẳng kém gì cây tùng trơ vơ trên núi cao hoặc cây xương rồng lì lợm trong cơn bão cát giữa sa mạc.

Giáo Trích gật gù, hút thuốc, nói chuyện khào với đám lưu dân U Minh Thượng. Những ngày tiếp xúc đầu tiên, giáo Trích tỏ vẻ ta đây là kẻ “sinh bất phùng thời” nhưng dân chúng chẳng hề để ý tới thái độ ngạo mạn ấy.

Ở vùng U Minh bấy giờ hầu như vô chánh phủ, ai cũng có lá bùa hộ mạng riêng, mỗi người một chiếu riêng. Có kẻ đã hai lần sát nhơn, thả bè vượt ngục từ Côn Đảo. Có kẻ giả bộ cuốc rẫy, mặc áo rách nhưng kỳ thật là một chúa đảng cướp. Lại còn nhiều ông kỳ lão, con cháu các vị công thần hồi đời Gia Long tẩu quốc thuộc làu kinh sử, tuy nghèo nhưng ai cũng kính mến vì các ông ăn ở có đức. Trong căn chòi sát mí rừng tràm, cô Tư Hạnh sống độc thân, ngủ trên chiếc giường, thiếu vách che bốn bên nhưng kẻ hảo ngọt nào tới buông lời ong bướm thì phải biết. Cô Tư Hạnh biết cầm roi, đánh quờn. Hằng ngày, cô chăm sóc rẫy khóm, hễ gặp rắn hổ là túm ngay cổ hoặc nắm đuôi rắn, cầm quay tròn. Chừng cô buông tay, rắn nọ nằm xụi lơ vì bị đứt xương sống.

Giáo Trích bỗng mất dạng.

Rồi tuần lễ sau, thầy ta trở lại xóm Tân Bằng, nói với giọng bí mật:

- Nước nhà sắp có cơn nguy biến...

Ai nấy nhốn nháo:

- Nghe đâu từ 80 năm qua, mình sống trong nguy biến rồi. Nếu không nguy biến thì bọn anh hùng như chúng tôi đâu có được hân hạnh gặp mặt thầy giáo tại đất khỉ ho cò gáy nầy?

Giáo Trích tằng hắng:

- Tôi nói thiệt đó. Nhựt Bổn với Tây sắp đánh nhau một trận tơi bời. Đánh tại rừng U Minh này.

Cô Tư Hạnh cất giọng... oanh rừng thỏ thẻ:

- Thật vậy hả? Thầy lấy cớ gì làm bằng cớ?

Bây giờ, giáo Trích kể thao thao bất tuyệt những giai thoại ở chợ Rạch Giá. Tàu chở lính Nhựt Bổn, đổ bộ vào lúc hừng đông. Quan chủ tỉnh, quan chánh sở Mật thám, quan chánh sở Kho Bạc và tất cả gia đình đều đầu hàng. Bọn lính của Nhựt Hoàng chia nhau canh gác nhà đèn, nhà máy xay lúa. Lính mã tà, lính săn-đá rút lui xuống tàu. Và tàu Tây đang phăng phăng chạy về hướng rừng U Minh này...

Mấy ông kỳ lão nheo mắt:

- Có lý. U Minh là vùng “long bản hổ cứ”. Xưa kia, Gia Long nhờ biết dụng cuộc đất U Minh mà chiếm lại thành Phú Xuân. Trong sử, còn ghi chép đất Long Xuyên, tức là Long Xuyên đạo, là U Minh vậy.

Nhưng giáo Trích quắc mắt, đứng dậy, lấy dáng điệu của một tướng Tàu đang phất cờ lệnh:

- Anh em ta nên cẩn thận, đề phòng. Dịp may đã tới. Chúng ta nên đồng tâm nhứt trí đánh Pháp, đánh luôn Nhựt Bổn.

Cử tọa nhìn nhau, mỉm cười. Họ dè dặt vì biết đâu giáo Trích là gián điệp của Pháp hoặc của Nhựt. Rốt cuộc, một ông kỳ lão nói:

- Khó lắm đó, thầy giáo ơi! Dân U Minh đánh giặc với hai nước một lượt, ghê quá. Để tôi về đọc truyện Tam Quốc, xem cái thế “chân vạc” rồi bàn với thầy. Tốt hơn, ai về nhà nấy... người lo cuốc rẫy, người lo uống rượu hoặc ai thích “quốc sự” thì cứ làm “quốc sự” một mình!

Cả bọn lần lượt giải tán. Cô Tư Hạnh phục thầm tài ăn nói hoạt bát của thầy giáo Trích. Dầu sao đi nữa, thầy ta là người “đi xa mới về” chớ đâu phải hạng mặt mốc chân phèn, tối ngày ở xó rừng.

Phía sau, có tiếng gọi:

- Cô ơi! Cô Tư!

Cô Tư Hạnh nhận ra giáo Trích. Hai người dừng lại, nhìn nhau. Cô Tư hỏi:

- Thầy ra tới chợ Rạch Giá, gặp Nhựt Bổn đánh Tây hả?

- Trời đất! Súng nổ rền trời... tôi nói dóc làm gì. Sáng mai này, Tây kéo xuống chiếm miệt Tân Bằng để lập phòng tuyến.

- Phòng tuyến là cái gì?

- Là... cái chỗ... hai bên đánh giặc.

Cô Tư Hạnh e thẹn, mắng yêu:

- Anh nầy, vô duyên quá, em mắc cỡ gần chết.

Đắc ý, giáo Trích thử nắm cườm tay người đẹp:

- Làm gì mà mắc cỡ? Giặc giã tới nơi rồi.

- Buông tay ra. Em năn nỉ anh mà. Để em về chòi, nấu cơm.

Vào chòi, cô Tư Hạnh vo gạo trong khi giáo Trích ngồi thổi lửa. Cô ta lẩm bẩm:

- Điệu nầy, ăn cướp nổi lên lung tung. Anh biết sao không?

Giáo Trích im lặng, hồi lâu mới đáp:

- Nhựt Bổn mạnh hơn Tây. Nó sẽ trừng trị bọn cướp.

- Làm gì trừng trị nổi. Nếu Tây xuống đây lập phòng tuyến như anh nói khi nãy...

- Em nói gì? Anh chưa hiểu...

- Tây với Nhựt đánh nhau, mỗi bên đều chết lai rai, hoặc bỏ súng mà chạy. Tụi bất lương lượm súng, mặc tình cướp của.

Bỗng nhiên, giáo Trích cau mày. Cô Tư Hạnh tỏ ra quá thông minh, xứng đáng làm vợ anh ta. Trong câu chuyện vừa thuật khi nãy cho mọi người ghe, anh ta cố tình che giấu một điều quan trọng. Tây lùa lính mã tà xuống tàu và đem theo hàng chục thùng cây, đựng đầy thứ giấy bạc năm trăm đồng! Nếu quả như sự dự đoán, xóm Tân Bằng trở thành phòng tuyến thì ai là kẻ thâu hoạch mớ giấy bạc ấy? Giáo Trích cương quyết thi hành thủ đoạn: yêu cô Tư Hạnh, làm chồng cô ta cho kỳ được để nhờ cậy một tay.

Sau bữa cơm trưa, hai người bàn luận rất lâu, cô Tư Hạnh hỏi từng chập:

- Trời! Anh nói đúng. Năm trăm đồng bạc là năm trăm giạ lúa. Em nghe nói giấy năm trăm chớ chưa cầm trong tay lần nào!

Giáo Trích nói dông dài:

- Ở chợ Rạch Giá, hễ ai mặc quần áo xà-lỏn mà có một tờ năm trăm trong mình thì bị bắt, ở tù ngay. Vì chỉ làm nghề ăn trộm hắn mới mong kiếm thứ giấy quí giá ấy. Anh nói cho em biết. Thầy thông thầy ký làm việc ở Tòa Bố, ăn lương mỗi tháng chừng năm chục đồng thôi. Họ còn chưa có tấm giấy năm trăm nữa kia. Nhưng nay mai, căn chòi này sẽ đầy ngập giấy năm trăm! Tình thế như vầy, như vầy. Nó xảy đúng như anh đoán trước. Chờ xem.

Trời xế chiều.

Giáo Trích và cô Tư Hạnh xúm nhau xây tổ uyên ương, dựng thêm bốn phía vách, đề phòng những cặp mắt tò mò. Đêm đến, họ ngủ chung trong một chiếc nóp. Cả hai đều không cảm thấy lạnh lẽo mặc dầu sương xuống, đọng giọt rơi lộp độp trên mái lá. Đến nửa khuya, cô Tư Hạnh thức giấc, giựt mình vì không thấy thầy giáo Trích nằm bên cạnh.

Vừa mở miệng nóp là cô gặp chàng ta ngồi hút thuốc bên bếp un:

- Vậy mà em sợ gần chết.

Giáo Trích đáp:

- Anh ở đây với em mà. Nếu tới đầu canh năm mà không nghe thấy tiếng tàu chạy ngoài xóm Tân Bằng thì em cứ đuổi anh, đừng kêu anh bằng anh, mà kêu anh là... con chó! Anh ngồi đây để nghe. Thời giờ tiền bạc. Em yên tâm. Anh tính không sai con toán đâu!

- Nhưng con toán của anh ra sao? Nếu anh biết tính toán thì dân xóm này đâu có ngu dại, họ dám ăn thua đủ với anh...

Trong bóng đêm, tiếng vạc ăn sương kêu oang oác. Côn trùng rên rỉ khắp bốn phía. Giáo Trích nghiêng mình kê tai xuống mặt đất, lắng nghe, cố phân biệt tiếng côn trùng và tiếng động cơ. Khi cô Tư Hạnh vừa ngáy pho pho trong nóp là chàng ta chạy tới, đánh thức:

- Em ơi! Nó đó!

Cô Tư Hạnh tốc nóp, dụi mắt:

- Nó đâu? Tây hay Nhựt Bổn?

Hàng chục người đang quảy nóp, chạy nhanh vào rừng. Họ chửi rủa ỏm tỏi:

- Tây vô đây làm gì đông quá! Lại còn hàng trăm lính mã tà. Súng ống đầy đủ.

Người khác cho biết thêm:

- Nó đóng binh trong đình, xô ngã mấy con hạc rồi dường như... tiểu tiện trong đình. Ông thần nếu linh thiêng thì chẳng bao giờ tha mạng tụi nó.

Giáo Trích nói:

- Hạnh à! Em rửa mặt cho mau.

Hạnh đâm ra sợ sệt:

- Chi vậy! Để chạy giặc hả?

Giáo Trích cười khì:

- Em dở hơi quá. Thiên hạ chạy, mình ở lại mới sướng chớ.

- Úy trời! Khi hai bên đánh nhau, lạc đạn, mình hãy chạy. Bộ em tưởng anh... gan dạ lắm sao? Em nên ra ngoài xóm Đình, làm như vầy, như vầy...

Cô Tư Hạnh đã thấy bao nhiêu biến đổi tang thương diễn ra trước mắt: Ba chiếc tàu sắt, hai chiếc tàu cây đậu tại bến. Bọn lính đốn lá dừa nước phủ lên mui tàu. Bọn lính mã tà ngồi chùm nhum, lo thọc huyết heo. Gà vịt bị trói nằm lểnh nghểnh. Một thằng Tây cười khì khì, đưa tay làm dấu hiệu. Tên lính mã tà lắc đầu, than với bạn đồng đội:

- Ổng không chịu cắt cổ gà. Ổng nói... gà vặn cổ ăn ngon hơn vì máu gà thấm trở lại vô thịt.

Người kia đáp:

- Mấy ổng bất nhơn lắm. Làm thịt heo, mấy ổng biểu bỏ da, bỏ ruột, bỏ mỡ. Chỉ ăn lá gan và thịt nạc.

- Hồi tối rồi, dưới tàu xảy ra sóng gió... mùi mẫn. Quan... phó sở Kho Bạc ôm ấp vợ lính mã tà, vợ thằng cai Thẹo. Bậy bạ quá! Ổng cho vợ cai Thẹo một tấm giấy năm trăm.

Tên lính kia cười gằn:

- Vậy là tốt phước. Lát nữa đây, ăn uống no say, mấy quan lớn sẽ... bắt con gái hương chức hội tề tới “đấm bóp”. À, chuyện nầy lạ thật. Cớ sao hương chức hội tề mất dạng? Hay là họ ra ngoài chợ để theo Nhựt Bổn! Họ khôn hơn tụi mình. Coi kìa... con mẹ nào ngộ quá, rình rập, dọ thám!

Cô Tư Hạnh hoảng hốt, rút lui phía vườn dừa, chạy thẳng một mạch tới chòi, thuật những chuyện tai nghe mắt thấy cho “người chồng một đêm” nghe.

Giáo Trích gật đầu, đưa tay bóp trán:

- Còn gì nữa? Em nói cho kỹ. Anh đoán không thua sấm Trạng Trình.

- Sấm Trạng Trình là... cái gì vậy anh? Em nói hết rồi. Chẳng lẽ em ở đó cho tụi nó bắt sống!

Giáo Trích đáp:

- Đây nầy! Mình làm giàu. Điều thứ nhứt: Lát nữa, máy bay Nhựt Bổn và tàu Nhựt Bổn sẽ chở thêm lính tới Tân Bằng.

- Ghê quá vậy? Rồi hai bên đánh nhau à?

- Em cứ bình tĩnh, nghe anh nói tiếp. Điều thứ hai: lính mã tà mạnh ai nấy trốn vì tụi nó uể oải, ghét Tây.

- Anh nói đúng.

Giáo Trích trợn mắt:

- Đừng khen anh quá sớm. Điều thứ tư... ủa, điều thứ ba: cái lối vặn cổ gà, ăn thịt nạc heo làm cho dân trong xóm ghét Tây. Nhựt Bổn tới, Tây phải chạy trốn lên rẫy khóm của em. Điều thứ năm... ủa, điều thứ tư: Tây lên rẫy, phải đem theo mấy thùng giấy năm trăm. Nhiều lắm. Quan chánh sở Kho Bạc bị bắt, quan phó sở tẩu thoát xuống đây...

Cô Tư Hạnh mãi suy nghĩ. Nếu quả thật bọn Tây chạy vào rẫy khóm, giáo Trích làm cách nào để giựt... mấy thùng giấy năm trăm! Chàng ta thuộc vào hạng trói gà không chặt, không có một tấc thép trong tay.

Vài phát súng to nổ rền... từ trên trời. Máy bay từ đâu lượn tới... sát đọt cây rừng. Giáo Trích và cô Tư Hạnh kéo nhau ra khỏi căn chòi, ngồi im. Dưới cánh máy bay, rõ ràng mang dấu hiệu nhà binh Nhựt Bổn. Từ thuở bé tới giờ, cả đôi uyên ương mới thấy rõ máy bay. Cớ sao nó bay quá thấp, chẳng sợ rớt. Nếu cầm cây sào mà quơ có thể... máy bay bị hạ.

Giáo Trích lẩm bẩm:

- Máy bay bay thấp nên ít nghe tiếng động. Nó tới từ hồi nãy giờ mà mình không hay.

Phía xóm làng Tân Bằng, súng nổ liên hồi. Chó sủa văng vẳng. Khói bốc lên ngùn ngụt như đất cháy. Nhiều người mặc quần áo kaki vàng chạy lên rẫy. Họ giắt lá cây sau lưng. Sau hè, dường như kẻ lạ mặt nào xuất hiện. Cô Tư Hạnh chưa kịp la rú là... một “ông Tây” chĩa súng ngay ngực.

- Con gái! Đi theo quan lớn. Mau, mau lên. Quan lớn... mướn con gái làm công chuyện gấp.

Giáo Trích chạy nhanh, lủi vào đám cây mận. Tên lính săn đá nọ tuy thấy rõ nhưng không bắn theo một phát đạn nào.

Ngồi trong lùm cây. Giáo Trích khoan khoái lạ thường. Kìa, bọn lính săn-đá đang hì hục khiêng từng chiếc thùng cây. Thùng nặng thì do hai người khiêng. Lại còn những thùng nhẹ hơn, bằng phân nửa mỗi người vác hai thùng. Tiếng súng im bặt. Chó không còn sủa ở xóm Đình. Tốp máy bay lần lượt tản mác ở tận chân trời, nhỏ thó như những bóng quạ đen.

Chiều hôm ấy, cô Tư Hạnh trở về chòi với... hai chục tấm giấy năm trăm. Cô ta nói tỉnh tuồng.

- Tụi nó hiền lắm!

Giáo Trích cau mày: Biết một tấm giấy năm trăm là một lần... thất tiết. Cô Tư Hạnh vỗ đầu người yêu, cười hí hửng:

- Nó mượn em kiếm giùm một thùng nước ngọt. Vì không có bạc lẻ, nó mở thùng cây, trả cho em năm trăm. Rồi thì thằng khác đưa em năm trăm, nhờ em mua giùm một con gà. Tụi Tây... thấy mà tội nghiệp! Tụi nó bị nắng ăn cháy da phỏng trán, râu ria xồm xàm. Thằng Tây già nọ thèm ăn trái khóm. Nó đưa trọn trái khóm lên miệng mà cạp vỏ, vỏ khóm quào rách miệng... Em thương hại giùm tụi nó, chỉ biểu cho cách... đập trái khóm để vắt nước mà uống. Nó đền ơn... năm tấm giấy năm trăm! Nó mời em ở lại... đêm nay. Nhưng em nhớ anh quá.

Hừng sáng hôm sau, giữa rẫy khóm, một ngọn cờ trắng phất phơ... tiến về phía đình làng. Bọn Tây lục tục theo sau. Giáo Trích la rú:

- Em Hạnh ơi! Nó đầu hàng rồi! Vợ chồng mình hãy tiến tới phòng tuyến...

- Úy! Không nên. Tụi Nhựt Bổn đóng binh ngoài đình Tân Bằng, dụ Tây ra hàng. Mình ra đó, rủi bị bắt.

- Anh nói chuyện khác. Mình ra ngoài rẫy khóm, nơi bọn Tây lập phòng tuyến... hồi khuya để hốt của! Chục thùng to lớn.

Giáo Trích nằm trong chòi, chờ tin tức. Anh ta còn trao cho cô Tư Hạnh hai tấm giấy năm trăm. Còn 10.678 tấm giấy năm trăm khác, anh ta chôn tại sau hè chòi. Hai ngày trôi qua. Dân xóm Tân Bằng bơi xuồng ra chợ Rạch Giá để mua sắm thỏa thuê. Mỗi người tệ lắm, xui xẻo lắm cũng được đôi ba tấm giấy năm trăm.

Dòng rạch chảy lặng lờ.

Chiếc xuồng của cô Tư Hạnh xuất hiện. Giáo Trích mừng quýnh, đưa tay ngoắt. Cô Tư nhảy lên bờ, chạy nhanh, đạp chiếc xuồng. Trong phút giây, giáo Trích ngỡ rằng bọn lính Nhựt Bổn đang kéo lên chòi do cô Tư Hạnh dẫn đường, để tịch thâu 10.678 tấm giấy năm trăm còn lại.

Cô Tư Hạnh la hoảng:

- Anh ơi! Đừng chạy. Đ.m.

Lần đầu tiên, giáo Trích nghe người yêu chửi thề. Thế có nghĩa là... chuyện quan trọng đã xảy đến. Anh ta hỏi:

- Cái gì? Cái gì?

Cô Tư Hạnh đáp:

- Đ.m. Thằng Tám Theo, ông già Hiệt, con mẹ Bảy Út... bị bắt ở chợ Rạch Giá hết rồi. Em khôn vong nên chạy hụt hơi về đây. Tụi Nhựt Bổn bắt tất cả những người... xài giấy bạc năm trăm, đem vô bót rồi nhìn số trên tờ giấy bạc. Tụi nó coi đó là bạc vô giá trị, bạc của Tây bỏ rơi.

Giáo Trích thở dài, mồ hôi tuôn ra dầm dề:

- Đ.m. Thiệt hay chơi!

Cô Tư Hạnh cúi đầu:

- Tức quá. Mắc cỡ quá...

- Cái gì mà mắc cỡ! Mình đâu phải là kẻ in giấy bạc giả. Bạc đó của Tây in ra, ghi trăm năm đồng đàng hoàng, lại còn có chữ: Kẻ nào làm giả bị phạt tù khổ sai chung thân. Đ.m. nó! Tôi phải ra chợ Rạch Giá cho biết đầu đuôi sự thật...

Vừa lúc ấy, ngoài xóm Tân Bằng vang dội tiếng rú... Súng nổ lát chát. Dân ngoài xóm vào báo tin:

- Nhựt Bổn tới. Nó bắt những người nào trữ giấy năm trăm trong nhà. Băt về tội... tiếp tế cho giặc Pháp.

Giáo Trích ra phía sau chòi, đứng tần ngần. Cô Tư Hạnh nói:

- Anh! Sao anh không chạy?

Giáo Trích nói:

- Đ.m. Anh biết rồi. Anh đuổi tụi Nhựt Bổn bằng cách nầy...

Nói xong, anh ta khui cái hầm chôn giấy năm trăm hồi hôm qua. Anh ta bốc từng nắm giấy năm trăm, ném xuống dòng rạch:

- Đ.m. Nước trôi, đưa mớ giấy nầy ra ngoài xóm vàm. Tụi nó ở ngoài mặc sức mà vớt. Đ.m. Đ.m... Bậy quá. Nó in bạc thiệt mà nó nói là không có giá trị! Đ.m. Mình là người... con dân lương thiện mà nó nói mình bất lương! Đ.m. Đ.m.

Vừa nói, giáo Trích vừa thảy bạc giấy. Đến xấp bạc cuối cùng, anh ta day lại, toan thốt lời tâm sự cuối cùng với người đẹp. Nhưng nàng đã khuất dạng tự hồi nào. Giáo Trích nói lẩm nhẩm:

- Có lẽ mình trót xài “giấy năm trăm” nhiều quá.

Rồi thì anh ta thốt như cái máy:

- Đ.m. Đồ vô ơn bạc nghĩa. Nó ham tiền! Đi đâu thì đi! Đ.m.

Xấp giấy bạc cuối cùng... cuốn theo dòng nước, như những chiếc lá vàng, chìm vì nặng chất phàm tục.

SƠN NAM
Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất