Ơn thầy giáo hóa khai thông

 TRÌNH THỊ TÁN
 TRÌNH THỊ TÁN

AT - Trong tác phẩm Người thầy, nhà thơ Trịnh Bửu Hoài đã viết: “Có người thầy chẳng những dạy ta hiểu biết về văn hóa, khoa học, lịch sử... mà còn dạy ta đạo làm người, cách xử thế, lòng trung thực, thủy chung...”.

Thầy Phan Văn Nhựt là một giáo sư như thế.

Năm 7 tuổi, tôi theo gia đình chạy giặc Miên từ xã Vĩnh Gia ra Châu Đốc, 10 tuổi mới vào học lớp 1, 15 tuổi học Trường trung học Thủ Khoa Nghĩa. Tại đây, tôi được học với thầy Phan Văn Nhựt ba năm liền qua các môn văn - sử - Pháp văn.

“Thầy là người nổi tiếng nghiêm khắc, trong đầu óc bé nhỏ của chúng tôi bấy giờ, thầy khó như hung thần, đứa nào cũng kinh sợ. Chỉ nghe đến tên thầy, lũ con nít hay quậy phá chúng tôi như cua xếp càng...” - Trịnh Bửu Hoài đã nhận xét như thế.

Đúng vậy, thầy vào lớp nào là lớp đó im re, dù thầy nói nhỏ cũng nghe rõ mồn một. Lũ bạn hay quậy nhất cũng thúc thủ ngồi im, chúng đặt biệt danh cho thầy là “Neuf Soleils” vừa ám chỉ thầy thứ chín tên Nhựt vừa ví thầy khó bằng chín ông trời. Khi giảng bài, trò nào ngó lơ là thầy ngừng giảng, nhìn trò đó trân trân hoặc gọi tên cho bạn đó giật mình chú ý. Có khi đang giảng bài, bất ngờ thầy đặt câu hỏi bắt trả lời để đo lường sự tập trung chú ý của học sinh.

Thi kiểm tra, giáo viên dạy môn nào tự ra đề, coi thi, chấm điểm môn ấy. Thế mà đối với thầy không hề có việc lộ đề, tuyệt nhiên không xảy ra gian lận thi cử. Thường ngày thầy mang kính trắng, đến giờ kiểm tra thầy mang chồng thêm một cái kính râm ra ngoài. Kiểu mang kính của thầy thật chẳng giống ai. Các bạn ơi! “Kính chiếu yêu” của thầy đấy, đừng có dễ ngươi giở “bùa phép” ra sử dụng. Ai cũng cảnh giác lo làm bài nghiêm túc bằng chính sức học của mình vì không biết “mắt thần” của thầy đang “chiếu tướng” ai.

Thầy áp dụng thực dạy, thực học rất hiệu quả. Khi thầy công bố kết quả cuối năm, tất cả học sinh đều trên điểm trung bình. Hôm ấy thầy rất vui và gần gũi chúng tôi hơn. Thầy vui cái vui thật sự của một năm nỗ lực dạy dỗ của thầy.

Thầy vừa là người cha nghiêm khắc vừa là người mẹ nhân từ. Nghiêm khắc khi truyền thụ kiến thức cho học sinh trên lớp. Nhân từ khi giáo dục đạo đức, nhân cách qua những mẩu chuyện ngoài đời. Nghệ thuật giáo dục của thầy là làm cho học sinh vừa sợ để lo học vừa kính yêu để ngoan ngoãn vâng lời. Ở đâu, lúc nào thầy cũng nghĩ đến việc giáo dục chúng tôi nên người từ ngôn ngữ đến nhân cách.

Có lần, thầy hỏi tôi:

- Nhà trò ở đâu?

Tôi vừa run vừa đáp:

- Thưa thầy, nhà con ở trên Tiệm Rượu.

Thầy lấy gói thuốc lá đặt trên bàn rồi nói:

- Đây là tiệm rượu.

Thầy để hộp diêm lên gói thuốc vừa nói:

- Nhà trò Tán ở trên... tiệm rượu!

Cả lớp cười ồ. Hóa ra nhà tôi ở trên nóc tiệm rượu!

Thầy đã dạy tôi nói năng phải rõ ràng chính xác.

Thầy cho đề bài làm văn “Tả buổi đi lễ chùa”. Có bạn viết: “Vào chùa cha mẹ tôi lạy tôi cũng bắt chước lạy theo”.

Khi sửa bài, thầy đọc: “Vào chùa cha mẹ tôi lạy tôi...”.

Thầy mắng “đồ con trời đánh”, rồi thầy bắt lên sửa, đặt dấu phẩy cho đúng.

Giảng bài Quốc kêu cảm hứng của Nguyễn Khuyến, có bạn đọc: “Khắc khoải sầu đưa giọng lẳng lơ”.

Thầy rất giận, hỏi gằng: “Giọng lẳng lơ là giọng như thế nào hả trò?”.

Giảng bài thơ Tôn phu nhân quy Thục của Phan Văn Trị họa lại bài Tôn Thọ Tường, một bạn đọc câu cuối là:

“Trai ngay thờ gái, chú thờ chồng”.

Thầy cầm mấy quyển sách đi xăm xăm xuống gõ cho mấy cái: “Ráng lớn lên mà thờ gái nghe trò! Đọc sai nguyên văn một tác phẩm là các trò không tôn trọng tác giả”.

Một hôm có nhựt thực, học sinh xôn xao đòi xem, thầy hóm hỉnh nói: “Có gì lạ đâu mà coi. Je mange đó”.

Thầy tên Nhựt, “Je mange” là tôi ăn, tức nhựt thực.

Thầy dạy chúng tôi chia động từ “mange” bằng một câu đùa.

Đêm đêm, thầy thường xách xe đạp chạy vòng qua nhà các trò để kiểm tra, thấy có gì sai, vào lớp thầy rầy không nêu tên ai để giáo dục chung chúng tôi. Bạn nào đi chơi tại đâu, lúc mấy giờ thầy đều kể vanh vách.

Thấy nhà trò Thu còn phơi quần áo. Vào lớp thầy mắng bâng quơ: “Có người tối rồi cũng không lấy quần áo vô”.

Thấy nhà trò Mai để đèn sáng ngoài sân, thầy rầy:

- Họ đó, họ ỷ nhà giàu, để đèn điện tới khuya.

Mấy đứa con nhà giàu, sắm đồ đắt tiền, thầy hỏi có ý mỉa mai sự lãng phí: “Mua bao nhiều mà rẻ vậy trò?”.

Đối với nữ sinh, thầy thường dạy: “Thời gian các trò ở với cha mẹ rất ngắn, phải làm thế nào cho cha mẹ không buồn lòng, khi lập gia đình phải đối xử với bên chồng như bên mình...”.

Tôi ngồi chung bàn với Tốt. Một hôm, Tốt cứ gục đầu trên bàn khóc mãi. Chừng biết được ở nhà bạn đi bán bánh mì. Tôi viết một bức thư gửi cho Tốt đại ý lấy hoàn cảnh của mình để an ủi bạn: “Tốt biết không, gia đình mình còn khó khăn hơn bạn. Mẹ bị mù, cha bệnh phong, chị bệnh tâm thần. Mình đi học thường với cái bụng rỗng, những ngày nghỉ học, mình đếm cà rem đi bán thật xa ở thôn quê vì sợ gặp bạn bè...”.

Không hiểu sao thư đến tay thầy, từ đó thầy quan tâm tôi nhiều hơn.

Năm lên đệ ngũ, có lệnh nữ sinh phải mặc đồng phục, tôi rất lo lắng. Ngày quy định đã gần kề, sự lo lắng cũng nhân lên, tôi đã khóc khi nghĩ đến việc phải nghỉ học. Bỗng lớp trưởng rủ tôi đi chơi rồi chở tôi đến nhà cô giáo dạy nữ công gia chánh. Lớp trưởng lấy trong bọc ra hai xấp vải nhờ cô đo, may cho tôi hai bộ áo dài. Sau này tôi mới biết thầy đã âm thầm vận động cả lớp góp tiền mua vải may đồng phục cho tôi.

Năm 1958, chúng tôi phải xuống Long Xuyên thi bằng trung học đệ nhất cấp. Lại lo lắng không tiền làm lộ phí đi thi thì thầy nhắn tôi đến nhà. Sau vài câu thăm hỏi, thầy móc túi lấy ra một gói giấy nhỏ bỏ vào chiếc nón lá tôi đang đặt ngửa. Thầy nói: “Con về lo sửa soạn đi thi”.

Lần đầu tiên thầy không gọi tôi bằng trò. Giọng thầy ấm như cha tôi.

Tôi về nhà mở gói giấy ra thì thấy tờ bạc 100 đồng thầy gói cẩn thận cho tôi (lúc đó vàng 24K giá 200 đồng/chỉ).

Thầy ơi, nếu không có thầy, con sẽ không được nối gót theo nghiệp của thầy. Thầy đã dạy con những bài học quý báu về đạo làm người, tình tương thân tương ái, tính chân thực, lòng vị tha...

Những lời giáo huấn của thầy hơn nửa thế kỷ trước như vẫn còn vang vọng mãi bên tai. Chẳng những thầy đã giáo hóa con nên người mà còn khai thông bế tắc, dọn đường dẫn dắt đến tương lai. Giờ đây, tại ngôi Miếu Tiên Sư Châu Đốc, tên thầy vẫn đậm nét trên linh vị dưới hai câu đối:

Phổ biến văn chương muôn thuở ghi tâm ân giáo hóa,Lưu truyền đạo đức ngàn thu khắc cốt nghĩa khai thông.

vd2Qt3d1.jpgPhóng toÁo Trắngsố 7 ra ngày 15/04/2012hiện đã có mặt tại các sạp báo.

Mời bạn đọc đón mua để thưởng thức được toàn bộ nội dung của ấn phẩm này.

 TRÌNH THỊ TÁN
Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất