Phóng to |
| Minh họa: Mặc Tuân |
Gần đây báo chí đăng ì xèo mấy vụ rắn, ngọc rắn nhưng toàn ở miền Trung, miền Bắc, trong khi miền Nam một thời vang bóng lại không nghe nói gì tới.
Trời nhá nhem, anh Hải xe ôm dừng xe trước UBND xã U Minh, dặn tôi: “Nhà báo nhớ đó, nếu người quen không ra rước thì gọi tôi. Tôi dẫn về nhà cơm nước rồi sáng mai tính”. Tôi gật gù trước lòng tốt của anh. Vừa gật vừa lo, miệng rao rảo nói người quen ra liền chứ tôi làm gì có người quen ở xứ mút chỉ Cà Mau này. Cái bụng bắt đầu reo réo kêu con mắt ngó tới ngó lui kiếm cái quán nào giùm cái, đói muốn chết. Mắt nhòe thấy một vài quán lẩu xa xa, nhưng lại gần thấy trên tấm bảng ghi chi chít lẩu rắn, lẩu trăn… Nhờn nhợn. Tự suy ra quán vậy thế nào cũng bán mì gói. Đúng phóc luôn. Hai ngàn một tô, thêm dĩa rau miệt vườn xum xuê.
“Dì Năm - Hổ mang mua nhiêu?”. Anh thanh niên cao hơn tôi một cái đầu lững thững bước vào quán, tự dưng ném vèo cái liếc mắt về tôi. Khuôn mặt anh đậm chất đồng bằng, tóc ngả màu nắng héo, coi bộ anh lớn hơn tôi chừng vài tuổi. Miệng anh hỏi bà chủ quán nhưng trên tay khệ nệ cái bao nặng trịch.
Bà già kéo anh ra sau. Thế là xong đời hổ mang, tôi đoán vậy. Anh chàng lạ mặt kia ra về nhưng ánh mắt lườm lườm nhìn tôi, đành phải giả vờ ăn là thượng sách. Anh trèo lên chiếc xe đạp cà tàng, rồi tấm lưng trần đen đen dần mất hút.
- Bộ quen thằng Tâm hả? Sao nó nhìn bây dữ? - bà chủ quán thấy lạ hỏi.
- Dạ không - Ảnh tên Tâm hả bà?
- Ờ, trùm xóm hạ đó.
- Dữ vậy.
- Ừm, trùm không phải là phá làng phá xóm gì đâu. Nó canh rừng cho ủy ban.
- Canh rừng sao đi bắt rắn rừng đi bán.
- Rắn gì?
- Thì bao rắn hồi nãy đưa cho bà Năm đó - tôi nói chắc cú.
- Bậy bạ, chuột đồng đó.
Không chờ không đợi, bà Năm ra sau chái nhà khiêng lên đúng bao lúc nãy đưa trước mặt tôi, tay mở miệng bao. Chậc, chuột lũ khũ, mập ú nú kêu the thé.
- Đặc sản miền Tây đó, rắn rít gì đâu? Mai bây lại đây, tao chiên giòn một con nhậu với rượu bần - bà Năm móm mém rủ rê.
Mặt tôi xìu đi, hình như một lúc mình trách lầm hai người luôn rồi. Nhắc mới nhớ là tôi còn sợ đôi mắt lúc nãy nhưng dường như trong đầu lóe lên một vấn đề mới mẻ.
- Năm, giới thiệu anh Tâm đó cho con với.
- Làm gì?
- Dạ, viết báo…
- Bây là nhà báo ở Sài Gòn? Hèn chi, nói câu nào cũng rào trước đón sau. Nhà báo xuống đây làm gì?
- Dạ tìm rắn.
- Trời, bộ bây tưởng U Minh giờ như xửa xưa hay sao mà đòi xuống đây tìm rắn ngâm rượu?
- Dạ không, con tìm rắn làm đề tài tốt nghiệp.
Tôi phát hiện người miền Tây lạ lắm. Lần đầu gặp ánh mắt lăm lăm hoài nghi mà chỉ cần nói chuyện câu trước câu sau đã thấy thân ra mặt. “Mai đi, tao dẫn bây vào nhà nó”- bà Năm ngờ ngợ ra dụng ý tốt đẹp của tôi nên ánh mắt hiền đi hẳn.
Trước lời ngỏ của bà Năm lão làng, anh nhận lời liền. Anh ít nói, gật gù đồng ý khiến tôi lại lo. Tôi làm quen trước: “Em tập tành viết báo, định tìm hiểu rắn U Minh Hạ viết bài tốt nghiệp, phiền anh giúp em một bận!”. Anh buông nụ cười heo hút: “Ừ”, gãi đầu rồi quay lưng xuống nhà dưới, cầm cây dao mác dài, lưỡi sáng hoắc trong tay. Tim tôi nhảy cẫng. “Theo anh”. Tôi lặng đi, cổ họng khô chát, hơi run. “Ra sau nhà anh làm trái dừa uống!” - anh gác dao lên vai. Chèn ơi, hú vía!
Dì Lệ, má anh Tâm, thật hiền, nét chất phác vẽ trên đôi mắt đẹp, sáng vẻ trìu mến. Dáng dì nhỏ con, vẻ lam lũ men theo đôi tay gân guốc, chai sần để chút bản lĩnh của người phụ nữ miền Tây phơn phớt bên ngoài da thịt. Dì làm đồ ăn cực ngon, ngày đầu tiên đã chuốc tôi đê mê bằng món gà hấp muối bá chấy. Dì hái đâu ra mấy cái lá rừng lạ, nhét vào đáy nồi bằng đất, cho con gà vào, lấy bột trét kín miệng rồi cho lên lò than. Đến khi khui nắp nồi thì con gà vàng rượm, thơm phức. Anh Tâm say mồi say men, mắt đỏ ngầu, nói chậm rãi: “Chú có muốn vào ruột rừng xem rắn không?”. Đúng bài rồi còn gì, tôi gật đầu cái rụp. “Ờ, vậy uống với anh ly, nhắp môi cũng được, mai anh cho mày xem rắn chúa”. Tôi tin sái cổ… Nhấp môi, vỗ đùi đúng bộ dân nhậu miền Tây khiến dì Lệ cười tủm tỉm.
Anh nuôi một đám lâu la gồm năm con chó Phú Quốc. Giống chó có đường xoáy dài chạy dọc trên lưng, lưỡi lúc nào cũng thò lò, đầu lưỡi có đốm đen. Cả bầy nhỏ thôi chứ săn rắn trùm phé. Anh chỉ vào con lông vàng: “Mắm này số dzách, phát hiện rắn là bới tận huyệt luôn”. Lần nào đi thăm rừng anh đều dẫn tụi nó theo, vừa vui vừa đỡ sợ chết hụt. Anh à một tiếng, tháng này là tháng rắn đẻ, chú em phải cẩn thận, sợ chân ướt chân ráo nguy hiểm lắm.
Từ nhà anh, khoảng 30 phút ngồi trên thuyền, gần 40 phút lết bộ nữa là tới ruột rừng. Khổ, chặng đi ngồi trên xuồng còn ngắm nghía, lia ống kính được chứ khi xuống thuyền, mang ủng vào rồi thì nhọc nhằn trần ai. Khi mồ hôi ướt đầm đìa cái áo thì ruột rừng mở khoảng không choáng cả mắt, hơi lạnh phà vào mặt trước khi tràn vào căng tràn buồng phổi, nghe thoảng hương tràm se se nơi cánh mũi. Tôi vừa định chụp con chim lạ thì anh vỗ vai: “Kìa, quay đằng sau”. Tôi ngoái đầu, con rắn lục bằng ngón tay vắt lưng trên thân tràm. Tôi hớn hở chụp lia lịa.
Con vàng sủa vang. Chó Phú Quốc sủa chắc có điềm. Anh bảo theo sau, rồi suỵt miệng, khẽ thôi, rón rén bước đến một cái ụ đất cao gần đầu gối anh đang chỉ chỏ.
- Nó đó.
- Gì anh?
- Hổ mây.
Tôi giật mình, lùi lại chút. Miệng anh bén một nụ cười trông giống mỉa mai… cho vui.
- Em còn yêu đời mà anh.
Anh kéo tôi qua, bảo trèo lên một thân cây cao to bằng bắp vế. Tôi nghe lời anh, trèo lên tận hai mét, nếu không cản chắc tôi trèo nữa cho… chắc ăn, vừa an toàn vừa tầm bấm máy. Anh ra hiệu bảo đám chó quay về nấp sau, bọn chúng nửa muốn nửa không. Anh nạt, tụi nó lững thững bước đi mà trông chừng tức lắm.
Anh bắt đầu giả tiếng kêu vịt trời. Chu choa mạ ơi, giống thiệt. Gần năm phút, trong cái hang có cái đầu đen đen lấp ló. Anh tiếp tục kêu. Con hổ mây mình to gần bằng cổ tay, đen hoắc, dài gần hai mét trườn ra khỏi hang, lưỡi khè khè. Bực con Vàng, nãy giờ nó canh me con rắn hơi lâu nên khi đối phương thò đầu ra ngoài là chịu không nổi chạy ra sủa vang. Đúng điệu chó hùa, cả đám còn lại ba chân bốn cẳng phi thân ra làm rùm beng. Con rắn biết mình bị mai phục, ngổng cao đầu, quắt đuôi một cái, chờ chiến. Đám chó càng nóng máu bừng bừng, tứ bề mai phục, dữ tợn. Anh quát, đám lâu la bớt phùng mang trợn má.
Có tiếng rục rịch đằng xa, một nhóm người lao xao đi tới. Anh nói đó là dân ăn ong vừa đi gác kèo về. Con Vàng vẫn giương mắt đăm chiêu nhìn hổ mây sủa khí thế. Xem chừng hổ mây trần ai lắm mới về hang được.
“Chết! Nhóm người kia thấy hang thế nào con rắn cũng toi mạng” - anh nghĩ rằng đám người đang đến sẽ moi, sẽ bắt cho bằng được con hổ mây nặng gần 5kg đem bán, ít nhất cũng được một triệu. Không ổn! Anh huýt sáo, chực chực vài tiếng. Lũ chó miễn cưỡng cụp đuôi chạy về.
May, rắn đã chui vào hang. Anh lấy tán cây trùm ụ đất lại. Chưa được, làm vậy càng dễ khiến con rắn chết oan vì cái kiểu lạy ông tui ở bụi này. Anh đến chỗ cái hang, huýt sáo thêm tiếng nữa. Đám quỷ theo anh.
- Ủa, chú Bảy đi ăn ong hả? Nay được mấy kèo chú?
- Ba kèo - người đàn ông có ánh mắt sâu hoắm trả lời cộc lốc - Trưa trầy trưa trật vào ruột rừng làm gì?
Ngồi trên ụ đất nhô nhô, tay anh ẵm con Vàng cù léc. Nó nhột rên la méo cả miệng. Anh thong thả trả lời, chân nhịp đều đều.
- Dạ con dẫn thằng em ở Sài Gòn xuống chơi.
Chú Bảy thoáng nhìn tôi:
- Vô tận ruột rừng chụp hình hả? Bộ thấy lạ hả?
- Nó dân thành phố, thấy cái gì mà chả lạ chú ơi.
- Vậy hả, giống nhà báo quá ha.
- Nó bấu víu cha mẹ, báo đời thì có.
Tôi nhìn anh, ánh mắt anh muốn tôi đừng thắc mắc.
- Ờ, thôi tao về, chiều rảnh qua nhà tao làm vài xị nha mày.
Anh chép miệng thèm thuồng:
- Chà chà, nay mồi gì vậy chú?
- Vịt xiêm nấu chao…
- Đã ta, nhất định phải qua - anh chép lưỡi.
Chú Bảy đi được đoạn lại nói vọng vào:
- Dẫn thằng nhóc qua luôn, tao dạy nó uống rượu đế.
- Dạ, tối con dẫn nó qua, chú muốn xử sao thì tùy.
Chú Bảy đi mất dạng rồi tôi mới thấy anh phấn khởi trở lại. Anh giậm chân mạnh.
Con rắn nãy giờ thập thò ánh mắt dòm ngó trong hang, nó tức cái bộ nhịp nhịp giò nên lúc anh giậm chân mạnh, nó liều mình lò đầu ra đớp một phát cho hả dạ. Đau điếng.
Anh bấn loạn. Con rắn lại chui tọt vào hang. Tôi hoảng, hồn vía bay theo tiếng rên của anh: “Anh có sao không?”. Tôi run tay tuột cái máy chụp hình, tháo cọng dây đeo thắt lại sơ cứu cho anh theo đúng cách từng học. Đám lâu la thấy anh bị rắn cắn cứ rên la ư ứ, quắt đuôi rồi cũng chả làm gì được. Con Vàng quay sang liếm mặt anh. Tôi thắt mạnh cọng dây. Đáng sợ thật. Mắt anh đờ đờ, than: “Không lẽ số tận rồi!”.
Câu nói của anh càng khiến tôi lo cuống cuồng. Từ ruột rừng mà chạy về nhà, chở lên bệnh viện chắc cũng mất hơn hai tiếng. Chết chắc…
“Để em cõng”. Anh im re… Tôi quay lưng, điệu anh lên nhưng đi được một đoạn liêu xiêu. “Thôi, dìu anh”. Anh dựa vào người tôi, bước đi lựng khựng, có cảm giác thân hình anh trơ trơ. “Em có cách rồi!”. Tôi dìu anh ngồi xuống, vứt tất cả đồ đạc rồi chạy theo hướng chú Bảy lúc nãy. Đằng kia có tiếng ghe máy nổ, cách chỗ tôi đứng hai ba chục mét. Tôi băng theo bờ dọc con rạch nhỏ, gấp gáp la oang oang: “Chú Bảy”… Tôi gào rú.
- Chuyện gì? - từ nóc ghe chú nhìn tôi.
- Anh Tâm bị rắn cắn. Cứu ảnh chú Bảy! - tôi phều phào.
- Thiệt tình, mùa này rắn đẻ vào chi không biết. Nó đâu?
Chú cặp xuồng gần bờ rồi phóng lên. Tôi chỉ theo hướng chỗ chú cháu gặp nhau. Chú chạy vù vù. Tôi hối, nhanh lên chú Bảy, nhanh lên.
“Nhanh thằng cha mày. Không thấy chạy muốn sút quần hả?”. Tôi ngượng cả người. Đến nơi vừa lúc mặt anh tím tái, đẫm mồ hôi. Tôi định thắt lại dây chặn máu độc thì chú Bảy đã cõng anh trên lưng, vừa chạy vừa nói: “Mày có thắt cũng vậy, gặp rắn chúa rồi, ngồi đó mà làm ba trò đàn bà này chút nữa mày thắt vòng hoa tiễn nó luôn”.
Chú Bảy đưa anh lên thuyền, cũng may có thêm người cầm lái nên đỡ lo. Chú rút con dao giắt vách, lấy hộp quẹt hơ hơ, rồi kề lưỡi dao vào chỗ vết máu bầm cứa một đường, máu đen ứa ra ngoài. Tôi run.
- Mày ngồi đó làm gì, gỡ cái nút kia ra, thắt cao lên gang tay đi.
Tôi răm rắp làm theo. Vết máu bầm nhỏ xuống, chú lấy tay nặn khéo, sau đó chườm thuốc rê lên. Chiếc thuyền nổ máy bành bành, sóng sánh những nỗi lo. Anh lim dim mắt.
Hên ghê, không có chú Bảy chắc anh Tâm phiêu diêu cùng hương tràm rồi.
Hôm sau anh tỉnh rụi, kể tôi nghe chuyện tía chú Bảy ngày xưa lợi dụng quyền hành, bán rừng quốc gia bậy bạ bị báo chí lên án quá chừng. Bởi vậy nhắc tới nhà báo ổng ghét cay ghét đắng. Tôi ngờ ngợ. Trưa chú Bảy đến thăm, mang theo nồi cháo cá lóc ngọt gì đâu. Lúc tiễn ra cửa bệnh xá, chú mời chiều sang nhà chú chơi. Tôi e dè: “Con là nhà báo, sợ đến chú ghét”. Chú la: “Bây khùng, nghe lời thằng ôn kia hả. Cha nó. Chuyện cha ông xa lắc giờ nhắc làm gì”. Tôi tin chú.
Sau gần năm ngày du hí ở Cà Mau, tôi về lại Sài Gòn. Tiễn tôi ra xe, anh Tâm tay xách nách mang buồng chuối, giỏ mít. Dì Lệ xâu xỏ cẩn thận cặp gà vườn mơn mởn, nói biếu ba má tôi ăn lấy thảo. Thương dì và anh quá chừng. Có thứ gì anh cũng cho, ngay cả hai con chó con của ả Vàng anh cũng tặng luôn. Tôi hỏi bộ không sợ ả buồn hả? Anh cười: “Nó thích em, cho con nó theo em có gì đâu mà buồn”. Hai con chó cụp đuôi ngồi im trong giỏ bàng có khoét sẵn lỗ thở. Nghe nó ứ ứ vài tiếng, chắc nó vừa nhớ mẹ, nhớ anh, nhớ dì Lệ.
Mà không chừng nó cũng nhớ đất Cà Mau. Y chang chủ mới của nó luôn.
Áo Trắngsố 35(số 91 bộ mới) ra ngày 15/03/2011hiện đã có mặt tại các sạp báo. Mời bạn đọc đón mua để thưởng thức được toàn bộ nội dung của ấn phẩm này. |


Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận