Bố hi sinh năm 1972 ở chiến trường Bình Trị Thiên khói lửa. Năm ấy tôi chỉ vừa lên 6 tuổi, cái tuổi còn quá bé để nhớ rõ được khuôn mặt người cha đáng kính của mình. Từ khi sinh ra, tôi chỉ gặp mặt bố có vài lần trong những dịp bố hành quân ghé qua nhà được đôi ba bữa rồi lại vội lên đường chiến đấu.
Lần cuối cùng gặp bố vào một ngày trời mưa tầm tã. Bố ôm tôi vào lòng và căn dặn đủ điều: “Con là con trai lớn trong gia đình. Con phải biết thương em và nghe lời mẹ. Khi nào hết chiến tranh bố sẽ về với mẹ và các con”. Tôi ôm bố trong hai dòng nước mắt rồi nhõng nhẽo: "Bố đi rồi về mau với con nhé!".
Rồi bố đi. Hai năm, ba năm… không thấy bố về. Cũng từ hôm đó tôi vĩnh viễn không bao giờ gặp lại bố. Có người nói bố tôi đã đi theo ngụy, có người lại nói bố đã hi sinh trong trận chiến tranh ác liệt. Những ánh mắt nhìn mẹ với cả những cảm thông, những dỗi hờn. Mẹ vẫn mang trong mình những hi vọng rằng một ngày nào khi không còn đạn bom, khói lửa bố sẽ về. Mẹ vẫn viết thư liên lạc cho bố dẫu biết rằng những dòng thư ấy không có hồi âm.
***
Một mình mẹ nuôi hai anh em tôi khôn lớn. Vượt qua bao đắng cay của cuộc đời, mẹ phải đảm nhận trách nhiệm của một người cha và cả người mẹ. Vì tôi không có điều kiện tới trường nên mẹ tự dạy học tôi ở nhà. Gọi là học thôi chứ thậm chí một quyển vở còn không có. Mẹ tự tay làm một cái bảng bằng gỗ rồi lấy những cục than làm phấn. Những nét chữ ấy đã mở ra cho tôi cả bầu trời ước mơ và một tương lai rạng rỡ.
Đất nước thống nhất, biết bao trai làng ra đi cùng lứa với bố trở về với những nụ cười rạng rỡ, với những lá cờ đỏ thắm của ngày khải hoàn của khúc hoan ca chiến thắng với sự đợi chờ mong mỏi của người thân. Những người mẹ ngóng con, những người vợ ngóng chồng và những người con ngóng bố vỡ òa trong ngày sum họp. Mẹ tôi cũng thế, cũng đợi chờ và hi vọng nhưng trong đoàn quân trở về không có bóng hình của bố. Trong khắc khoải đợi chờ, mẹ vẫn tin sẽ có ngày bố trở về. Nhưng…
***
Hai năm sau ngày thống nhất đất nước. Cũng trong một ngày trời mưa tầm tã. Một bác đưa thư tới đưa cho tôi một phong bì thư. Tôi vội mang đến cho mẹ và thấy vui vì cứ nghĩ bố viết thư cho mẹ. Vừa mở lá thư ra tôi thấy mẹ khóc, mẹ siết chặt tôi và em vào lòng: "Con ơi. Bố hi sinh rồi, bố không bao giờ trở lại với mẹ con mình nữa". Ba mẹ con ôm nhau khóc.
Bố tôi hi sinh vào năm 1972, nhưng năm ấy giấy báo tử bị thất lạc, không về được với mẹ con chúng tôi. Đến khi biết tin bố mất, cũng chẳng có manh mối nào để mẹ con biết được miếng đất nào đã lưu lại bước chân cuối cũng của bố. Bức ảnh thờ bố bây giờ của chúng tôi cũng chỉ là bức tranh mẹ nhờ một bác họa sĩ vẽ lại qua trí nhớ.
Những ngày khi nghe tin dữ, mẹ chẳng buồn ăn uống. Mẹ cứ thơ thẩn một mình rồi lại khóc. Mẹ gầy guộc già đi rất nhiều. Mãi cho đến một hôm tôi bị sốt cao, những cơn co giật liên hồi. Từ lúc ấy mẹ với giật mình và nghĩ đến các con.
Năm 1980 gia đình tôi vào Đắk Lắk lập nghiệp. Gia tài ít ỏi mua được một miếng đất nhỏ và cất một ngôi nhà bằng tranh. Một mình mẹ tự tay dựng lên ngôi nhà ấy. Anh em tôi chỉ giúp được mẹ những việc nhỏ. Mẹ tự tay cuốc đất trồng những củ khoai củ sắn, rồi mẹ dạy anh em tôi những bài học để sinh tồn nơi mảnh đất hoang tàn để anh em tôi không bị đói. Dưới cái nắng cái lạnh của vùng đất Tây nguyên, mẹ vẫn oằn mình chịu đựng. Đêm đêm mẹ vẫn tranh thủ cuốc đất khai hoang.
Dù nghèo dù khổ nhưng mẹ vẫn cho hai anh em tôi tới trường vì quá tuổi nên tôi học lớp bổ túc văn hóa vào buổi tối. Ban ngày phụ mẹ, ban đêm tôi vẫn cặm cụi với việc học. Mẹ thường nói với anh em tôi: "Bố không còn sống với mẹ con mình nhưng lúc nào bố cũng dõi theo từng bước đi của các con. Hãy ráng học và sống tốt ở một phương trời xa bố sẽ luôn tự hào về các con”. Vì thương mẹ nên chúng tôi ráng học.
Tôi không quên cái buổi hai anh em tôi ở nhà nướng khoai ăn. Vì ham chơi nên để ngọn lửa bén dần lên ngôi nhà và mỗi lúc cháy càng cao tôi chẳng biết làm gì ngoài gọi mẹ. Mẹ ngoài vườn chạy vào chỉ cố múc những xô nước để dập lửa nhưng chẳng ăn thua gì với ngọn lửa mỗi lúc một cao. Mẹ đứng sững người. Tôi khóc, em khóc và mẹ cũng khóc.
Tất cả đồ đạc đã cháy rụi. Tài sản bấy giờ của mẹ con tôi chỉ là đống tro tàn. Nhưng không như lần nghe tin bố mất, mẹ vẫn đứng dậy vì anh em tôi. Mẹ ôm chúng tôi vào lòng rồi nói: "Thôi ngày mai dựng nhà lại các con ạ!". Câu nói đanh thép ấy của mẹ đã truyền niềm tin cho chúng tôi, tôi không khóc nữa và tự hứa sẽ cố gắng để mẹ bớt buồn.
Ngày tháng trôi qua mẹ bắt đầu vươn mình bươn chải với mọi nghề. Rồi mẹ mua thêm được miếng đất, cưới vợ cho anh em tôi. Chúng tôi vẫn thường tâm sự với nhau công nhận mẹ mình giỏi thật. Một mình mẹ vượt qua bao nhiêu gian khó nhọc nhằn để nuôi con khôn lớn. Cả cuộc đời mẹ chưa bao giờ được sống những ngày sung sướng.
Khi mẹ cưới xong vợ cho tôi, mẹ và em trở về quê hương. Mẹ bảo: "Mẹ muốn trở về quê hương lúc tuổi già". Rồi mẹ lên tàu về Nam Định. Tôi ở lại xây dựng kinh tế gia đình.
***
Vài tháng trước, em gọi điện nói mẹ đang bệnh nặng chẳng biết có qua khỏi không. Tôi nghẹn lòng và vội vã đón xe về bên mẹ. Khi tôi về đến nơi thấy mẹ nằm bất động. Tôi đến bên cầm tay mẹ, đôi tay chai sạn vì bao nỗi nhọc nhằn của cuộc sống. Mẹ mở mắt nhìn tôi. Mẹ lúc nhớ lúc quên không nhớ tôi là ai. Tôi ôm mẹ khóc. Dẫu mẹ không nhận ra con nhưng đôi mắt mẹ đỏ hoe. Tôi biết dù quên đi mọi thứ nhưng hơi ấm của tình thân thì mẹ vẫn cảm nhận được.
Từ khi gặp tôi, bệnh của mẹ giảm đi rất nhiều. Được một thời gian, mẹ gọi tôi lại và bảo: "Mẹ khỏe rồi, con về với gia đình đi, mẹ không sao đâu". Tôi miễn cưỡng trở về với suy nghĩ gia đình của con chính là mẹ đó.
Dẫu cuộc sống như thế nào con vẫn sống kiên cường như mẹ của con. Cảm ơn cuộc đời đã cho con được làm con của mẹ.
Tôi muốn gửi những lời này tới mẹ tôi: mẹ Đào Thị Nhỡ (huyện Ý Yên, Nam Định). Hãy cố lên mẹ nhé! Con sẽ về bên mẹ!
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận