
Phiên họp của Quốc hội tại kỳ họp không thường lệ thứ nhất, Quốc hội khóa XVI - Ảnh: QUỐC HỘI
Nghị quyết số 66 của Bộ Chính trị đã nhận định "chất lượng pháp luật chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn". Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV cũng khẳng định "hệ thống pháp luật còn một số quy định chưa thống nhất", đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật đầy đủ, thống nhất, ổn định...
So với Nghị quyết số 66, Văn kiện Đại hội XIV đã nhấn mạnh thêm một yêu cầu quan trọng là "tính ổn định của hệ thống pháp luật".
Điều này một lần nữa được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhắc lại trong phiên họp tháng 9-2026 của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật là: "Pháp luật phải đủ ổn định để người dân, doanh nghiệp yên tâm đầu tư".
Pháp luật ổn định để người dân, doanh nghiệp có thể dự liệu
Tính ổn định của pháp luật không đơn thuần là kỹ thuật lập pháp, mà còn là yếu tố quyết định sự sinh tồn của môi trường kinh doanh.
Sở dĩ như vậy vì tính ổn định của pháp luật cho phép duy trì sự liên tục của các tình huống pháp lý, tạo điều kiện để các chủ thể dự liệu hành vi của mình trong một khoảng thời gian hợp lý.
Đầu tư, kinh doanh luôn đi kèm với rủi ro, tuy nhiên rủi ro lớn nhất lại đến từ sự thay đổi thường xuyên của pháp luật.
Khi pháp luật ổn định, doanh nghiệp có thể tính toán chi phí, lợi nhuận và xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn, cho 5 năm, 10 năm hoặc thậm chí lâu hơn.
Ngược lại, nếu pháp luật thay đổi liên tục, doanh nghiệp khó dự liệu dòng tiền, chi phí và lợi nhuận. Khi đó, thay vì đầu tư dài hạn, nguồn lực có thể bị dịch chuyển sang các hoạt động ngắn hạn.
Sự ổn định của pháp luật cũng tạo ra an toàn pháp lý, giúp người dân yên tâm sinh sống, sản xuất, kinh doanh và qua đó củng cố niềm tin vào pháp luật.
Dưới góc độ kinh tế học, vàng và đất đai được xem là những tài sản trú ẩn an toàn (safe-haven assets). Khi người dân cảm thấy pháp luật thường xuyên thay đổi, họ sẽ có xu hướng rút tiền khỏi hệ thống sản xuất, kinh doanh để tìm kiếm đến vàng, đất đai và xem đó như một cách phòng thủ an toàn.
Trong khi đó, khi hệ thống pháp luật ổn định, người dân sẵn sàng khai thông dòng chảy của vàng, đất đai thông qua việc thành lập doanh nghiệp, mở cửa hàng sản xuất, kinh doanh hay góp vốn vào các dự án khởi nghiệp, từ đó thúc đẩy chuỗi cung ứng, tạo ra hàng hóa, dịch vụ và tăng trưởng GDP.
Đưa cuộc sống vào chính sách trước khi đưa luật vào cuộc sống
Ngạn ngữ Latin có câu: "Lex minima optima est", tức là "luật ít nhất là luật tốt nhất". Triết lý này cho rằng pháp luật chỉ nên can thiệp vào những nguyên tắc công bằng cốt lõi, phần còn lại để xã hội và thị trường tự vận hành dựa trên những nguyên lý nhất định.
Hiện nay, nếu nhìn vào số lượng luật do Quốc hội thông qua trong một năm cũng như số văn bản dưới luật được ban hành sẽ thấy được sự đồ sộ của hệ thống pháp luật Việt Nam.
Chỉ tính riêng trong năm 2025, Quốc hội đã ban hành tới hơn 80 đạo luật. Tất cả đều là luật khung và giao nhiều nội dung cho Chính phủ ban hành nghị định quy định chi tiết.
Trong những năm gần đây, số lượng nghị định của Chính phủ được ban hành ngày càng nhiều.
Thống kê trong vòng 15 năm qua (từ năm 2011 - 2025) thì số lượng nghị định của Chính phủ ban hành trong năm 2025 và 9 tháng đầu năm 2026 tăng đột biến.
Nếu tính từ năm 2011 - 2024, trung bình mỗi năm Chính phủ ban hành hơn 140 nghị định. Riêng năm 2025 có 374 nghị định được ban hành.
Trong 9 tháng đầu năm 2026 (tính đến 30-9), Chính phủ cũng đã ban hành hơn 370 nghị định và dự kiến đến hết năm 2026, con số này có thể vượt 400 nghị định.

Nguồn: Báo cáo dòng chảy pháp luật kinh doanh 2025 của VCCI
Với số lượng văn bản pháp luật nhiều như vậy, người dân, doanh nghiệp rất dễ rơi vào tình trạng "việt vị" do không cập nhật được thông tin pháp lý. Thậm chí, đến chính các cơ quan nhà nước cũng sẽ lúng túng trong việc triển khai thi hành.
Trong thời gian qua, nhiều văn bản pháp luật được ban hành nhưng chưa thể đi vào cuộc sống do việc nghiên cứu xây dựng chính sách còn hạn chế. Khi chính sách chưa được làm rõ thì việc bắt tay vào soạn thảo văn bản pháp luật giống như "mò mẫm đi trong đêm tối". Hệ quả là một số quy định sau khi ban hành không đạt được hiệu quả như kỳ vọng.
Vì vậy, bên cạnh việc đặt câu hỏi tại sao pháp luật không đi vào cuộc sống, cần nhìn sâu hơn vào gốc rễ vấn đề: Liệu thực tiễn cuộc sống đã được nghiên cứu đầy đủ để đưa vào pháp luật hay chưa?
Đây là điểm cốt lõi của công tác nghiên cứu và hoạch định chính sách.
Muốn pháp luật ổn định, trước hết chính sách phải được làm rõ. Mỗi chính sách cần xác định cụ thể người thực hiện, nguồn lực, điều kiện thực hiện và kết quả cần đạt được.
Khi chính sách được xác định rõ, luật có thể ngắn gọn hơn, ít phải thay đổi hơn; trong tương quan đó, các văn bản dưới luật cũng sẽ có tính ổn định cụ thể.
Tất nhiên, để điều chỉnh hiệu quả các quan hệ xã hội thì pháp luật phải có sự thay đổi, nhưng sự thay đổi này cần tuân thủ lộ trình rõ ràng, có điều khoản chuyển tiếp nhân văn, không hồi tố gây thiệt hại cho những người đã tuân thủ luật cũ trước đó.
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đã nói: "Thước đo cuối cùng không phải là thông qua được bao nhiêu luật, mà là: sau khi luật được ban hành, bộ máy có vận hành tốt hơn không; người dân, doanh nghiệp có thuận lợi hơn không; nguồn lực xã hội có được giải phóng không?".
Pháp luật ổn định chính là cam kết cao nhất của Nhà nước đối với sự an toàn tài sản và quyền tự do kinh doanh của người dân, doanh nghiệp. Khi cam kết này được bảo đảm, các nguồn lực trong xã hội mới được giải phóng toàn diện.
Sự ổn định của pháp luật vì thế không chỉ tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp mà còn góp phần củng cố niềm tin vào hoạt động quản lý nhà nước.
Một nhà nước được dân mến, dân tin thì chắc chắn, nhà nước đó sẽ luôn vận hành hiệu quả.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận