Gia tài của cha

TRẦN THỊ KIỀM (Nguồn: www.netbuttrian.vn)
TRẦN THỊ KIỀM (Nguồn: www.netbuttrian.vn)

TTO - “Này thì ham chơi, măng không uốn để lên tre!” - cha vừa đánh vừa la tôi về cái tội ham chơi gọi mãi không về. Lúc đó tôi khoảng 6 tuổi và đó là trận đòn duy nhất cha dành cho tôi - là hành trang theo tôi suốt cuộc đời, là một trong những vốn liếng mà sau này tôi dùng dạy con.

Khi tôi được 10 tuổi, cha thường đưa tôi đi dự “meeting”, xem triển lãm hiện vật biệt kích của đế quốc Mỹ do thám để chuẩn bị đánh phá miền Bắc, đi cửa hàng bách hóa… Khi tôi học cấp I cha dạy tôi không được làm vở lem mực, không gạch xóa và phải viết nắn nót cho đẹp kẻo quen tay rồi thì khó sửa.

Khi tôi gặp bài toán khó thì cha giải giúp tôi. Cha còn đọc cho tôi chép bài Hoan hô chiến sĩ Điện Biên của nhà thơ Tố Hữu và tôi đã học thuộc dễ dàng. Ngày 30 tết, cha mua câu đối, tranh ảnh về trang hoàng nhà cửa và bảo tôi đi hái ít hoa dại về cắm trên bàn thờ. Sau này tôi vẫn không hiểu vì sao cha tôi là một người nông dân chân đất, văn hóa lớp 3 “bình dân học vụ” (lớp xóa mù chữ do Cụ Hồ phát động thời đó) lại có được một tâm hồn như thế. Cha thật sự là người thầy đầu tiên của tôi.

Khi tôi học lớp 3, máy bay Mỹ ném bom bắn phá quê tôi nên chúng tôi không được đến trường mà phải học sơ tán theo nhóm dưới hầm. Cha làm vòng ngụy trang và bàn xếp cho tôi tiện mang đi mang về. Cha lo lắm và thường dặn dò tôi rất kỹ cách ẩn nấp khi có máy bay ném bom.

Hồi đó, nơi quê tôi phía bắc Quảng Trị là một vùng đất cát đói nghèo, cha phải cày cuốc lam lũ mới kiếm được củ khoai, củ sắn cho chị em tôi ăn và đi học. Vào một đêm mùa hè 1967, cả làng tôi bốc cháy vì bom napalm, cũng may không ai chết. Tôi vẫn nhớ như in hình ảnh cha đào bới trong đống tro tàn mong tìm kiếm chút gì còn lại nhưng tất cả đã bị thiêu rụi. Ai cũng chỉ còn lại duy nhất mảnh vải che thân.

Cha hì hục đào một chỗ đất để bắc cái xoong đã cháy hết một nửa đun nước cho chúng tôi uống cầm cự và chờ mong sao cho sớm được nhận đồ cứu trợ. Chao ôi, toàn gạo cháy thôi, quần áo thì toàn đồ rách! Mỗi nhà được một cái nồi lem luốc bẩn thỉu. Hình như tất cả đều có dấu vết bom đạn nhưng ai cũng mừng vì có còn hơn không, “lá rách đùm lá nát” mà.

Lúc này ở quê tôi chiến tranh càng ngày càng ác liệt vì vậy chúng tôi phải đi sơ tán ra Bắc để được tiếp tục học tập theo chủ trương của chính phủ. Ngày chia tay gia đình khóc quá chừng, chúng tôi phải ra đi trong đêm. Cha phải dắt tôi bước thấp bước cao đi đến địa điểm tập trung. Để an toàn cho học sinh, sau ba lần hoãn, chúng tôi mới được lên xe. Nơi cưu mang chúng tôi là một vùng quê ở huyện Đông Hưng, Thái Bình.

Trong 6 năm xa quê, cha thường xuyên gửi thư cho tôi nhắc nhở tôi phải học giỏi, vâng lời cha mẹ nuôi và chăm sóc cho các em.

Rồi chiến tranh cũng chấm dứt sau bao hi sinh gian khổ của cả dân tộc. Ngày 27-1-1973, Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương được ký kết. Mùa hè năm đó tôi cũng thi tốt nghiệp phổ thông. Sau bao ngày mong đợi, chúng tôi cũng như bao nhà khác được đoàn tụ gia đình.

Trở về nhà, tôi đã trở thành một người nông dân thực thụ. Hằng ngày, ngoài những lúc cùng cha vác cuốc ra đồng, cha hay nhắc tôi chịu khó ôn để thi đại học. Thời đó không có việc luyện thi như bây giờ mà phải tự học hoàn toàn. Với sự nỗ lực của mình, tôi đã thi đậu vào Trường đại học Xây dựng, cha và cả nhà mừng lắm. Nhưng năm đó, vì những lý do khách quan, tôi cũng không được đến trường và tiếp tục làm… nông dân.

Chẳng mấy chốc, mùa tuyển sinh năm sau cũng tới, tôi suy nghĩ nhiều lắm nhưng vẫn chưa quyết định được mình có nên nộp hồ sơ hay không. Một buổi tối sau khi ăn xong, tôi thấy cha ngồi trầm ngâm, hình như cha đang suy nghĩ lung lắm. Thấy tôi đi qua, cha gọi lại và nói “Cha biết con rất ham học nên năm nay con nộp hồ sơ đi, biết đâu năm nay mình sẽ gặp may. Việc ruộng nương ở nhà cha sẽ cố gắng hết sức, con đừng lo!” và tôi đã “gặp may”.

Năm đó tôi trúng tuyển vào Trường Thương nghiệp của Bộ Nội thương. Và thế là tôi lại từ giã mái ấm gia đình để ra đi. Trong thời gian tôi đi học, cha lúc nào cũng viết thư động viên tôi cố gắng học tập. Cha là người thầy đầu tiên, là động lực quan trọng nhất cho tôi trên con đường lập nghiệp.

Từ thuở ấu thơ cho đến khi khôn lớn, cha luôn dạy tôi phải ngăn nắp, sạch sẽ, ăn chín uống sôi, dụng cụ lao động phải để có nơi có chốn để khi cần là có ngay. Cha dạy tôi cả những việc như tát đìa, bắt cá, cầm búa cầm liềm sao cho khỏi phồng tay. Những việc rất đàn ông như đan lát, cầm bào, cầm cưa cha cũng dạy tôi và tôi đã cùng cha cưa gỗ làm nhà bằng cưa đại (hồi đó ở quê tôi không có cưa máy) mà không phải thuê thợ. Những việc tưởng như bình thường đó cũng là hành trang của tôi trong suốt cuộc đời, giúp tôi sau này trở thành người phụ nữ biết tự lực từ việc cơ quan cũng như gia đình.

Cứ nghĩ đến hình ảnh của cha với cái quần đùi đen bạc màu và mảnh áo vá vai đầm đìa mồ hôi để có củ khoai củ sắn nuôi chị em tôi thì khó khăn gian khổ nào tôi cũng vượt qua được hết. Tôi mong mỏi ngày ra trường về công tác gần nhà để có điều kiện giúp đỡ gia đình và ngày đó cũng đến. Đó là cuối năm 1977, ra trường rồi nhưng với tinh thần của thời đó là đi bất cứ nơi đâu theo sự phân công của tổ chức, tôi được điều động vào công tác ở Sài Gòn.

Ngày tiễn tôi, cha cùng cuốc bộ với tôi 5 cây số mới tới bến xe. Tôi lên xe mà cha đứng mãi như không muốn rời tôi. Đó là hình ảnh cuối cùng của cha trong tôi với bộ đồ bạc màu và cánh tay vẫy vẫy. Hồi đó ở một vùng quê nghèo như quê tôi, có một người con gái được đi công tác tận Sài Gòn là niềm tự hào và mơ ước của nhiều bậc cha mẹ. Tôi biết cha mừng lắm dù cha không nói ra.

Tôi mới đi công tác được 4 tháng, còn quá nghèo nên chưa làm gì được cho cha thì cha đã ra đi đột ngột sau một cơn bạo bệnh. Tôi về không còn kịp để nhìn mặt cha. Từ đó đến nay đã 35 năm nhưng chưa lúc nào tôi nguôi nỗi nhớ về cha, người đã nuôi tôi trưởng thành bằng củ khoai, củ sắn, bằng sự hi sinh cần mẫn, đức độ và lòng yêu thương nhân hậu.

Tôi luôn tự hào về cha của mình vì cha đã chắp cho tôi đôi cánh và một đôi chân vững vàng để tôi tự đi trong cuộc đời của mình. Với tố chất thông minh và tấm lòng nghĩa hiệp, cả cuộc đời cha là gia tài vô giá đối với tôi. Nhờ gia tài ấy mà tôi đã nuôi được 2 đứa con trưởng thành, tốt nghiệp đại học và trở thành những con người hữu dụng. Tôi luôn nhắc nhở các con tôi về tấm gương của ông ngoại chúng như một cách để tiếp sức cho con vượt qua những khó khăn trong cuộc sống này.

Nhân đây, cho phép tôi được gửi tới ban tổ chức cuộc thi Nét bút tri ân lời cảm ơn sâu sắc nhất vì đã tạo cơ hội cho tôi được chia sẻ tình cảm và lòng tri ân của mình đến người cha thương yêu của tôi.

TRẦN THỊ KIỀM (Nguồn: www.netbuttrian.vn)
Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên
    Chủ đề: Nét bút tri ân

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất