Cây đầu đông

YẾN LINH
YẾN LINH

AT - Ngày Duy về nhà, đang đợt mưa. Cuối năm ngập chìm trong những ngày mưa kéo dài từ sáng tới tối, từ tối tới sáng. Qua cửa kính xe, đâu đâu cũng ngập màu nước, mênh mang khắp cánh đồng hai bên đường.

ssYZU78e.jpgPhóng to
Minh họa: Duy Nguyên

Lúc gần tới nhà, Duy dong dóng mắt tìm xe ôm, nhưng chẳng thấy chiếc xe nào. Duy lội bộ từ đường lộ vào nhà, nước ngập ngang bụng. Đồ đạc nằm trong balô, Duy đội trên đầu, hai tay giữ thiệt chặt, chỉ sợ sơ sẩy là mấy bức tranh vẽ, mấy quyển sách với cái bản vẽ điện tử rớt xuống nước, coi như công sức một tháng ngồi đóng đinh vẽ minh họa cho mấy tờ báo đi toi.

Duy nghĩ chắc má nhìn thấy đám đồ đạc Duy mang về nhà, thể nào cũng càu nhàu, thằng này về có mấy ngày mà cứ như về luôn, mang làm chi nhiều đồ đạc vậy. Đi đường xe cộ, lỡ cướp thì sao? Duy sẽ cười cười nói, má ơi, người ta có cướp cũng lựa người mà cướp chứ.

Rồi tới tối, lúc hai má con ngồi bên mâm cơm, má sẽ lại càu nhàu cái đầu tóc dài lượt thượt của Duy, bao giờ cũng vậy. Sáng ra, trước khi đi chợ, má sẽ kêu Duy dậy, dúi vào tay Duy mấy chục ngàn, dặn ra tiệm hớt tóc sang nhất thị trấn mà hớt cho thiệt đẹp. Và lần nào cũng vậy, Duy cũng nói vọng ra từ trong giường, tóc vầy mới là tóc má ơi. Má sẽ chặc lưỡi, mày giống y chang ba mày. Mỗi lần má nói như vậy, Duy kéo mền đắp tới tận đầu, cố che đi ánh mắt mình, sợ có ai đó nhìn thấy.

Má dặn đàn ông không được yếu đuối, nên không bao giờ Duy để má nhìn thấy mình rớt nước mắt. Hồi nhỏ, đánh nhau với tụi con nít bên kia sông, bị tụi nó đánh hội đồng nhừ tử, trở về nhà người đau rần rật, Duy tự đi lấy rượu thuốc xoa khắp người rồi leo lên giường ngủ tới sáng. Hồi ba chết, Duy cũng không khóc. Má nói chắc Duy còn nhỏ quá, mới năm tuổi đầu nên không biết gì. Má cứ nghĩ vậy. Má đâu biết là Duy biết hết, nhớ hết.

oOo

Hồi đó cũng là mùa gió mưa bão bùng, gió thảm thốc rít ngày này qua ngày kia, gió quét qua thổi trốc mấy mái nhà trên đầu xóm. Bữa đó má vẫn còn đẩy hàng rong đi bán. Ban đêm mười một giờ, má vẫn chưa về nhà. Duy ngồi bó gối nơi bậc cửa, ngó mắt nhìn ra bóng đêm quánh đặc, chờ tiếng lọc xọc quen thuộc nhưng không thấy gì. Duy trở vào nhà, bắc ghế, với tay đốt nhang, miệng lẩm bẩm khấn cho má bình an vô sự, trời thương má. Vừa khấn xong thì gió thổi qua, bay gần hết mái nhà.

Duy chui xuống gầm giường, nằm im thin thít, bấu chặt tấm hình ba. Với Duy mọi thứ có thể mất chứ không thể mất tấm hình ba được, cho nên khi hàng xóm chạy qua, lôi Duy ra khỏi giường, kéo chạy đi, Duy vẫn cầm khư khư tấm hình trong tay. Đêm đó, má không về nhà được. Nước ngập trắng đường về, má phải ở nhờ nhà người ta trong thị trấn.

Chỉ một tối thôi mà nhìn má gầy sặt đi. Sáng bữa sau trời hết bão, má về nhà, cũng là lúc người ta chở ba từ bệnh viện về. Duy nép bên cửa sổ buồng, nhìn ba mà tưởng không phải là ba. Người đàn ông gầy sọm, hai hốc mắt trơ khấc, da sáp xám, vậy mà miệng vẫn cười cười khi hàng xóm tới bu kín căn buồng, thều thào.

- Gì mà ai cũng nhìn tui là sao?

Người ta tản ra, người ta xì xầm, người ta chặc lưỡi, nói thấy ổng hiền vậy mà sao lại nghiện, sao lại làm khổ vợ khổ con, sao lớn rồi mà còn dại? Dì Ba bịt tai Duy, dắt Duy về nhà dì, nói ba mệt, để cho ba nghỉ. Dì Ba bắt Duy ở lại nhà dì suốt ba ngày, ngày nào cũng ăn cơm với mắm quẹt. Tới bữa cơm, Duy chống đũa, mút mắm quẹt, nói mắm quẹt nhà dì Ba dở khẹc, cho con về nhà ăn cơm với mắm quẹt má con làm. Dì Ba chửi rân trời, nói ăn đi, để im cho ba mày nghỉ, về nhà chạy nhảy, sao ổng nghỉ ngơi được? Mày không thương ba mày hả? Duy nói, con thương ba con mà.

Dì Ba chỉ cho Duy về vào ngày người ta liệm ba, rồi đưa ba ra đồng. Bữa đó, nước ngập lênh lênh, trắng xóa cánh đồng. Duy mặc áo xô trắng, ôm hình ba, lúc đi về nhà, nhìn trời, chửi ông trời ngu, ngày người ta chết mà cũng mưa. Đó là lần duy nhất trong đời, Duy chửi thề.

oOo

Lội nước gần hai cây số, người mệt phờ, có lúc tưởng không đi được nữa, hai tay mỏi nhừ thì Duy về tới đầu ngõ. Đã thấy má đứng đó, mặc áo mưa, đội cái nón lá rách tươm, mắt nhong nhóng nhìn ra con đường nước. Thấy Duy lướt thướt đi vào, má đỡ cái balô cho Duy, lấy nón lá trên đầu đội cho Duy, lại càu nhàu, thằng quỷ, về làm chi? Duy cười hì hì, nói về đi lội nước bắt cá. Mùa lụt cá đầy nhóc, má khỏi tốn tiền chợ mua cá.

Mới năm giờ chiều, trời đã sầm sập tối. Má nói điện đóm tào lao, tự nhiên tắt ngóm từ nửa tháng nay rồi.

- Sao má không nhờ ai?

- Ờ, thì cũng có ông Ri nói để ổng sửa giùm cho, nhưng thôi hàng xóm người ta lại dị nghị.

Duy nhìn má đang chong hai cây đèn dầu. Dưới ánh sáng leo lét, Duy nhận ra má già đi nhiều. Hồi ba mất, má ba mươi hai tuổi. Ba mươi hai tuổi, má cứ vác đơn đi nơi này, xã nọ, đài phát thanh này truyền hình kia tìm kiếm người thân. Ba dắt Duy bỏ nhà đi bụi suốt một năm là suốt một năm má chạy ngược chạy xuôi tìm Duy.

Những nơi mấy người nghiện ngập từng tụ tập, má rành như lòng bàn tay, chỉ từng sợi cỏ. Tới ngày ba dắt Duy về hình như má đã cạn khô yêu thương. Yêu thương của má cũng giống như mớ đồ đạc trong nhà kia, nếu ba không lén đem đi bán thì má cũng đem xáng (đập vỡ) mỗi lần ba má cãi nhau. Cái gì xáng được, má xáng hết. Duy ngồi ôm chặt cái tivi trắng đen, sợ má đập luôn. Như một quy luật, sau mỗi lần ba má cãi nhau, đánh nhau, là ba lại xếp đồ bỏ đi, toan dắt Duy theo.

Duy thấy ba kéo cái balô là bỏ chạy bắn khói, cả đêm thà ngủ trên ngọn cây ổi, dưới gốc chanh chứ kiên quyết không dám về nhà. Duy sợ hãi những ngày lang thang đầu cầu xó chợ, những buổi sáng thức dậy nhìn ba giả què chân, còn Duy thì được ba bôi thuốc đỏ khắp người, lê lết đi ăn xin, mặt mũi dàu dàu chìa cái nón rách trước người ta.

Lần cuối khi ba thật sự trở về là khi ba đã yếu, chân không còn đi nổi nữa. Ba không chết vì nghiện, mà chết vì bệnh ung thư gan. Mà không ai tin hết, ai cũng nói, ba chết vì si-đa, có giấy xét nghiệm âm tính cũng không ai tin. Suốt những năm tháng ấu thơ, Duy sống với thân phận đứa con của người bị si-đa, còn má, má là vợ của một người si-đa, không đàn ông nào muốn gắn kết.

Đã có bao nhiêu tiếng bước chân đàn ông đi ngang qua ngõ, ngập ngừng dừng lại, rồi thở dài đi mất? Hàng má bán không ai dám mua, người thương tình thì chỉ dám mua mấy hàng bánh kẹo đóng gói sẵn. Mãi đến sau này, chừng mười năm đi qua, thấy Duy vẫn sống khỏe người ta mới tin, người bị bệnh si-đa không sống khỏe mạnh lâu như vậy.

- Má à? Hay là má đi lấy chồng đi?

Duy nói bâng quơ, nửa nói giỡn, nửa nói thiệt, bởi sợ má lại nổi quạu nói thằng này nói toàn chuyện bá láp. Thiệt ra, chuyện này Duy nghĩ tới từ lâu rồi. Đêm nằm trong căn phòng trọ giữa thành phố xa lạ, Duy nghĩ, bao giờ tới ngày má lấy chồng, Duy sẽ dặn má đàn bà không được nóng nảy, không được hơi một chút là xáng hết đồ đạc, phải tập nấu ăn ngon, phải khéo léo, phải như vầy, như vầy thì đàn ông mới thương, mới giữ được chồng, rồi cũng phải biết chăm sóc mình…

Sẽ nói với má, má còn đẹp lắm, mấy bà ở thành phố, phấn son chưng diện cũng không bằng má đâu. Duy nghĩ vậy, mà chưa lần nào Duy mở miệng nói được với má, bởi bao giờ má cũng đánh trống lảng.

Tối nay cũng vậy, khi Duy mới dứt câu, má đã nói thôi đừng nói chuyện khùng khùng nữa con, rồi hỏi Duy về lần này định ở bao lâu?

- Bao giờ hết tôm, hết cá ngoài đồng thì đi má à!

Má dọn xong mâm cơm, Duy ngồi tót hai chân trên cái ghế gỗ dài, thọc đôi đũa vô tô canh má nấu. Lần nào má cũng nói, người có học không được ngồi vậy, ăn như vậy. Người ta nhìn thấy, cười cho. Duy hơi khựng đôi đũa, nhớ xa xăm thành phố phồn hoa Duy đang sống, đang quay cuồng vì nó. Nơi đó, Duy đã cố gắng sống với lớp mặt nạ của kẻ trí thức, lịch sự. Và chiếc mặt nạ ấy khiến Duy mệt mỏi, không sao gỡ ra được. Đóng vở kịch của đời mình, để rồi Duy bị chính nơi đó khước từ, không là gì, không chốn nương thân. Sao Duy lại không từ bỏ được? Người ta chỉ về quê khi đã là rác của thị thành?

oOo

Lúc Duy đi giăng lưới ngoài sông về, thấy má đang ngồi sắp lá chuối chuẩn bị bán chợ chiều. Duy ngồi xổm xuống, sắp lá cho má. Duy bó chục mười lá, má kêu ậy ậy, chục mười hai chứ con. Đi xa quên hết rồi. Duy nghe nước mắt đắng trong lòng.

Ăn xong bữa cơm, Duy nằm trong căn buồng của ba, trên chiếc giường ba từng nằm. Nhà rộng thùng thình, gió lùa nghe vu vu. Nửa đêm Duy ngồi dậy, chong đèn. Lôi từ balô ra xấp tranh in, cắt một bức tranh in tên Cây đầu đông của Keiko Minami đem lồng vào cái khung hình của ba treo trên vách. Cái khung mọt gặm, không có kiếng, bao góc bằng băng keo đen - loại keo người ta dùng để quấn dây điện. Vậy mà má cũng giữ mười mấy năm nay. Hồi Duy mười tám tuổi, má lục cái rương đóng lớp bụi dày, lôi ra một xấp giấy úa vàng, mấy cây bút sắt.

- Đó, tài sản của ba để lại đó, con tính sao thì tính. Mấy chuyện này, má không tính được.

Má thở dài, nghe chua xót vô chừng. Hình như thế giới của ba là cái gì đó quá đỗi xa xăm với má. Duy mân mê cây bút sắt, tấm tranh gỗ, xấp giấy vẽ chân dung ước lệ mấy cô gái tóc dài thiệt dài, cổ cao ba ngấn. Ba vẫn thường chong đèn ngồi vẽ cả đêm như vậy.

Bữa sau, Duy quyết định thi vô Trường Mỹ thuật. Từ đó tới giờ đã bảy năm rồi, qua mấy lần đổi phòng trọ, cái gì cũng có thể mất đi, chứ mớ tài sản ba để lại chưa suy suyển lần nào. Vậy mà, bữa kia, đi ngoài đường, bị một thằng cướp giật phăng cái túi. Chẳng có gì ngoài tài sản của ba. Duy rượt theo, tới ngã tư đèn đỏ, kẹt xe, đứng trân trân. Một thằng choai choai chen xe lên, đưa nguyên ống pô vào chân Duy, còn gân cổ lên cãi. Duy đứng giữa ngã tư, kéo ống quần, lột luôn phần da bị phỏng, máu chảy ròng ròng. Thằng choai choai chắp tay, em lạy, em lạy anh, cho em xin lỗi.

Bữa đó trên đường về nhà, Duy khóc ròng ròng, lòng đau như có ai xé. Chợt nhớ chắc cơn đau này cũng ngang cơn đau của má hồi sau đám tang ba, má dắt Duy đi ngang qua cây cầu nằm ngang sông. Má đứng đó nhìn mặt nước xa xăm, nói cầu cho ông ở dưới đó được gặp chị Tư, hai người gặp nhau, tha hồ ôn lại tình xưa. Cũng lúc đứng trên cây cầu buồn tênh đó, má cho Duy biết, Duy có người chị cùng cha khác mẹ, nhưng chưa kịp ra đời thì đã đi theo mẹ. Nên mỗi lần say, ba thường căm giận trách cô Tư, có muốn tự tử chết thì cũng phải sinh đứa nhỏ ra đã chứ, rồi quay sang má, ánh mắt buồn rũ.

- Chắc xuống đó, ba mày sẽ nói với cô Tư, em chết rồi, anh đi lấy người khác cũng đâu có vui. Đúng không Duy? Không biết, ổng có còn trách má không?

Duy không nói gì, chỉ tự hỏi, sao số mình giống ba? Duy lại tự hỏi, Nguyên đi lấy chồng, có vui không? Bởi từ sau đám cưới Nguyên, Duy chưa thấy Nguyên lần nào, nên không biết Nguyên có hạnh phúc, có cười không. Mỗi bận đi làm, ngang qua cây xăng nhà Nguyên, Duy vẫn cố vào đổ xăng dù bình xăng còn đầy, chỉ cốt để gặp mặt Nguyên, hay thấy bóng Nguyên lướt qua cũng được. Mà có bao giờ gặp đâu. Bạn Duy nói, Nguyên là bà chủ không lẽ ra cầm vòi bơm xăng, để cho mày gặp mặt? Duy nói, ừ ừ, cũng đúng. Nhưng ngày nào cũng dừng lại nơi đó, nghe lòng đắng đót. Duy không trách Nguyên, cũng không trách cha mẹ Nguyên chuyện không cho Nguyên lấy thằng nhà nghèo, suốt ngày lang thang vẽ vời, cha lại nghiện.

Đêm nay, tự nhiên, Duy có cảm giác ba đang nằm bên Duy, vỗ về Duy. Bàn tay ba lạnh thiệt lạnh làm Duy thức giấc. Duy trở dậy, vén cửa nhìn ra sân nhà. Tiếng ai đó đi lép nhép ngoài ngõ, đứng khựng trước nhà Duy, còn nghe tiếng thở dài rớt lại bên hàng hiên.

Duy tự hỏi, thân cây vừa trồng sáng nay, không biết có sống sót qua đợt lụt này không? Mùa sau Duy về, có còn nữa không?

Dưới bếp, má đã trở dậy, lục tục sắp lá, gói bánh ít, nói Duy đem vô cho bạn bè. Lẽ nào Duy nói với má thôi đừng làm, con không có bạn bè. Mấy người con gặp hàng ngày, họ không ăn thứ bánh nhà quê dính tay này đâu má ơi!

4iC3NXxO.jpgPhóng to

Áo Trắng số Tất Niên (số 1) ra ngày 15/01/2012 hiện đã có mặt tại các sạp báo.

Mời bạn đọc đón mua để thưởng thức được toàn bộ nội dung của ấn phẩm này.

YẾN LINH
Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất