Phóng to |
|
Minh họa: La Nguyễn Quốc Vinh |
Dì là chị kế mẹ, lấy chồng xứ biển, gần chục năm chưa về phố lại một lần. Năm lớp tám, tôi theo mẹ về thăm. Thấy mẹ cứ nắm bàn tay cháy nắng khô đét của dì mà rơm rớm mắt. Sáu năm đi qua, nắng ám màu đậm thêm trên những ngón tay gầy mà giờ da đã bắt đầu kéo nếp xô vào nhau, nhăn nhúm.
Chiều tôi phụ dì dọn hàng bánh tráng ra bãi cát, ngó bàn tay gầy guộc căng lên ráng gồng xách cái giỏ lỉnh kỉnh đồ đạc mà thương.
“Lần sau dì bỏ hết vô cặp thúng này đi, con quẩy cho dì!” - tôi nài nỉ.
“Khỏi! Khỏi! Dì xách được. Không có con thì dì cũng dọn được một mình chớ nhờ ai” - dì phẩy phẩy cái tay. Rồi khơi khơi mấy cục than trong cái bếp lò trước mặt để ngọn lửa đỏ lên. Cái bánh tráng mở rộng trên miệng lò gặp lửa cong dần xung quanh mép tròn, lẹp bẹp vặn mình với tiếng than lách tách nổ.
Trên mặt bánh tráng là mớ hành lá cắt nhỏ xanh ngắt trộn cùng những tép mỡ phồng vàng rộm giữa màu đỏ thẫm hòa quyện của mắm ruốc, tương ớt, nước me. Tất cả tạo thành một thứ mùi mà dù bụng có no căng mấy thì miệng cũng thòm thèm muốn thử. Lúc bánh đang chín dần cũng là lúc dì nhanh tay hoặc là cuốn nó lại thành cuốn dài như cuốn chiếu, hoặc gấp tư hệt một góc quạt giấy xòe ra, theo ý thích người mua.
Tôi chỉ giúp dì làm được mỗi một việc là pha nước chấm và bưng ra bàn cho khách. Khách thường là những người tắm biển mới lên, thèm một chút nong nóng, cay cay làm ấm bụng. Nhưng đa số vẫn là người trẻ như tôi. Họ chạy đùa giỡn trên cát, nghịch ngợm trêu nhau giữa làn nước xanh hay chụm vào vừa trò chuyện, cười nói xôn xao vừa rôm rốp nhai món bánh tráng nướng mỡ hành giòn rụm của dì tôi.
Trên gương mặt họ tôi thấy bóng mình, hạnh phúc, vô tư lự. Bóng hình đẹp đẽ. Chỉ mới đây thôi, gần lắm. Lúc Di chưa phải cậu sinh viên xuất sắc được chọn đi du học. Và tôi chưa là con gái rớt đại học đến hai lần.
2. Đêm trên biển sâu và thăm thẳm đến không ngờ. Cả nền trời, cả bãi cát, cả biển như khối tím thẫm liền nhau, trải dài vô tận, không tìm thấy đường ranh giới. Giữa màu đêm, những dãy đèn đánh cá nối tiếp ngoài khơi cũng nhỏ nhoi, mong manh như một vệt khói sáng dễ đứt doạn, tan biến.
Kiên - anh họ tôi - đang ở đâu đó, ngoài kia. Cậu bé da đen bóng mà cái cười trắng loáng dạy tôi bài học bơi đầu tiên mùa hè sáu năm trước. Anh giờ liệu có mang gương mặt với những nếp khằn trước tuổi, có thân hình chắc nụi cùng hai bắp tay to, lấm chấm vệt muối trắng như người chèo thuyền thúng tôi thấy trên biển chiều nay?
Tôi nhớ, anh đã nói anh muốn giống thầy giáo dạy ở ngôi trường sau mấy hàng dương. Ước mơ và hiện thực. Khoảng chênh vênh dần cao thành cái dốc sâu hun hút đó. Anh đã làm thế nào để thoát ra? Tôi muốn biết. Để tìm cho riêng mình một bấu víu để ngoi lên, để thoát khỏi những đè nặng nghẹt thở. Vì cảm giác là một kẻ thất bại.
Năm đầu tiên tôi rớt đại học, Di nói: “Cố lên, Mai sẽ làm được”. Tôi tin Di. Để rồi tất cả lụi tàn, như một đám lửa chỉ cháy bùng được trong khoảnh khắc.
“Cố lên, Mai sẽ làm được” - tôi biết Di đã không nhìn vào mắt tôi khi lặp lại điều này một lần nữa, năm nay.
Ánh mắt Di đang hút về một nơi khác. Một khoảng trời thênh thang xanh ngắt, đầy mây bay.
Vậy mà Kiên lại không ở đây. Sao anh lại đi biển đúng ngày tôi chạm chân lên mặt cát bỏng rẫy trước ngôi nhà phất phơ những mắt lưới to tròn?
Tôi thành kẻ cô độc, tìm tiếng cười lạc lõng trong những chiều phụ bán với dì Năm.
Sóng cuộn thành những dải tiệp màu đêm mà phần ngọn cứ như những cái lưỡi cong vòng, loa lóa trắng. Ầm ì trong tiếng sóng, một âm thanh gì đó thầm thì mời gọi.
Tôi nghe trong đó hình như có tiếng cười trong vắt của tuổi học trò bên Di. Có lời hát ấm áp chiều hai đứa ngồi đan tay ngắm mưa, giọng Di trộn lẫn giọng mưa tí tách. Những thanh âm hạnh phúc. Âm thanh cuốn bước chân tôi ra ra mãi… Mặc kệ gió vươn cánh tay dài lồng lên bạt tung tơi tả mái tóc dài như muốn níu kéo, muốn van lơn.
“Rơi xuống biển, sẽ lạnh lắm đấy!”.
Một tiếng nói trong trẻo thình lình cất lên.
Tôi giật nảy người. Âm thanh réo gọi từ biển biến mất. Trong vệt đèn vàng hắt ra từ khu resort tít trên kia, sau lưng tôi một cô bé đang đứng im, lặng phắt. Bộ quần áo trắng em mặc lồng ánh đèn sáng lên như in lốm đốm những bông hoa màu mỡ gà. Mái tóc ngang vai phất phơ bay theo gió, lớp tràn xuống ôm lấy gương mặt bầu bĩnh mà tôi càng nhìn càng thấy những nét quen. Tôi đã gặp cô bé này ở đâu?
“Rơi xuống biển. Rất lạnh!”. Cô bé cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi bằng lời lặp lại.
Em bước tới. Đột nhiên chuỗi gió đang luồn quanh tôi vụt dậy lên lạnh buốt. Cơn lạnh chạy luôn xuống dưới mặt nước ngầu tối màu bọt sóng. Rút chân khỏi lớp nước lạnh cóng, tôi chạy lên bờ.
Trên bãi cát, cô bé cũng đang vòng đôi tay nhỏ qua hai vai xoa xoa:
“Lạnh thật! Lạnh vầy mà chị định tự tử sao?”.
“Đâu… có. Chị… chị” - tự nhiên mặt mũi tôi nóng bừng. Câu chống chế cũng lắp bà lắp bắp một cách tội nghiệp. Tôi thảm thương đến mức thế này sao. Để một con bé tưởng mình xuống biển tự tử. Tôi làm gì thế này. Tất cả là tại bài hát của những con sóng. “Còn em? Em là ai? Nhỏ vầy mà sao đêm hôm không ngủ còn chạy ra đây?” - tôi chống nạnh làm bộ ra oai để lái câu chuyện qua hướng khác.
Cô bé vẫn điềm nhiên ngó tôi bằng đôi mắt rất quen. Đột ngột, em quay ngoắt người, bước đi trên bãi cát.
“Chờ… chờ đã!” - tôi đuổi theo, vì nhận ra em đang đi về hướng khác. Tôi đã tưởng em ở trong khu resort trên kia. Một cô bé nghịch ngợm trốn ngủ, trốn cả ba mẹ chui qua lỗ hổng nào đó của hàng rào khu resort. Vì trẻ con luôn có cách để ra ngoài nếu chúng muốn. Kinh nghiệm làm trẻ con mười mấy năm của tôi hóa ra cho dự đoán sai bét, ít ra là trong lần này.
Cô bé vẫn bước ngược hướng khu resort, rất nhanh
“Chờ… chờ chị đã!” - tôi rượt theo em đến hụt hơi - Em đi nhanh quá vậy! Em đi đâu?”.
“Em về nhà” - Cô bé dừng lại. Đã quá xa để không còn ánh đèn vàng nào cắt khoảng giữa màn đêm không hiểu sao càng ngày hun hút. Trước mặt tôi gần như chỉ nhập nhòa bộ quần áo trắng phất phơ.
“Nhà em ở đâu?” - tôi hỏi, cố xua đi một tưởng tượng quái gỡ.
“Chỗ kia!...” - cô bé vươn tay, màu da trắng nổi giữa màu đêm.
Tôi ngạc nhiên đến tròn mắt.
“Đó là khu xóm chài! Em ở cùng xóm với dì Năm chị hả?...”.
Cô bé gật đầu.
“À! Đừng nói là… Nãy giờ em theo chị từ trong xóm ra đúng không? - tôi lại chống nạnh.
Lần này, cô bé chẳng phản ứng gì. Tỏ vẻ chả nghe thấy hay là chả quan tâm đến câu hỏi của tôi, em lại bước đi. Nhưng chầm chậm, đủ để tôi chạy lên song song bước với em.
“Sao chị hỏi em không trả lời?”.
“Vậy sao chị ra biển?”.
“Sao đâu! Chị buồn quá. Ra chơi thôi!”.
“Ra chơi mà chạy ra tuốt gần ghềnh đá! Chỗ đó, chị chưa nghe ai nói à, có một xoáy nước rất sâu”.
“Không, chị không biết!” - tôi quay sang, vì cảm giác giọng cô bé đang run lên một cách lạ kỳ. Quả thật, mặt em trắng bệch. Dù chỉ bằng vài ánh sao bé tí như hạt mè tuốt trên kia, tôi vẫn thấy rất rõ ràng.
“Em sao thế?” - tôi nắm lấy cánh tay em và rùng mình, nó lạnh toát, hơn cả chạm vào nước biển.
“Em không sao” - cô bé gỡ tay ra, bước lên trước.
“Em rất lạnh!” - tôi bước theo.
“Em luôn lạnh thế đấy. Gió và biển… Chúng làm em lạnh. Nhưng có hề gì. Em về nhà sẽ hết ngay thôi!”.
“Mai nếu ra biển, chị sẽ mang một cái áo ấm. Vì biết đâu em sẽ lại theo chị, khi đó biết đâu nó sẽ có ích cho em - tôi chọc. Tưởng sẽ được nghe câu ngúng nguẩy: “Em mà thèm theo chị!”. Nhưng cô bé nói:
“Chị đừng ra biển nữa. Biển đêm không phải là một liều thuốc chống buồn”.
“Em…” - tôi không thể không quay qua, lời con bé không phải là lời một đứa trẻ chừng mười tuổi.
“Bà cụ non ơi! Em còn nhỏ lắm, không hiểu được đâu! Có những nỗi buồn phải đập tan tành, trút ra mới hết được, biết không?”.
“Nhưng em không thấy người ta dùng biển để đập tan nỗi buồn. Họ chỉ dùng nó để đập tan mình. Họ biến biển thành kẻ độc ác, biết giết người. Họ nhảy xuống, mong nhẹ nhõm. Nhưng lòng biển thì vì họ mà dần nặng trịch, ngày này qua ngày khác”.
Tôi bàng hoàng. Cô bé bên cạnh đang chăm chăm vào tôi ánh mắt dữ dội trách hờn, trong lúc giọng nói thình lình lên cao, cao vút đập vào đầu tôi ong ong như tiếng một cái chuông. Rồi như trong một giấc mơ hoang đường nhất, tôi thấy gương mặt trẻ con trước mình vụt mờ đi, biến mất. Có một cái gì đó thật lãng đãng mơ hồ như một lớp sương mù dày đặc vừa đột ngột rơi xuống làm mờ mịt cả đầu óc. Tôi cố căng mắt nhìn lại. Con bé quả thật đã biến mất. Gió từ đâu cuộn lớp cát dưới chân tung vào mắt tôi một hạt bụi. Tôi nhắm mắt. Trong một tích tắc lúc mắt mở ra, tôi thấy em điềm nhiên đứng trước tôi, bình thản vui vẻ như tất cả những gì vừa qua chỉ là một ảo giác.
“Em … em… chuyện gì?” - tôi bắt đầu sợ hãi.
“Gì đâu! Mình về nhà nhé, chị ơi!” - giọng cô bé tự dưng nghe tha thiết.
“Không… Em… Không phải em là ma đó chứ?” - đôi chân tôi đã run lên bần bật không cách nào kiếm được.
“Chị thật hạnh phúc…”- cô bé vẫn đứng nguyên một chỗ, nhưng tôi ớn lạnh… Giữa mặt cát và ống quần dài em mặc cách ra một khoảng trống một gang tay.
“Những con ma chết đuối ở đây đều không có chân”. Câu nói rùng rợn của anh Kiên năm mười ba tuổi trở về làm tôi muốn xỉu“…Chị có thể về với mẹ. Em cũng muốn!” - giọng con ma trẻ con vẫn trong vắt bên tai tôi.
Tôi vùng chạy. Bằng tất cả sức lực của đôi chân run rẩy trong cơn sợ hãi cực độ, tôi chạy. Cắm đầu cắm cổ về phía đốm trắng ngọn đèn từ ngôi nhà đầu tiên của xóm chài. Chạy mà nhắm tít mắt vì sợ sẽ thấy một bóng trắng lững lờ trôi trước mình.
“Những con ma vùng biển theo người rất nhanh, chúng không dễ rời đi một chút nào”. Lại là tiếng anh Kiên! Tôi cần anh bây giờ chứ đâu phải cần lời hù dọa hồi con nít.
Nước mắt đã tèm lem trên mặt lúc tôi xô ầm vào cánh cửa trước nhà, làm dì Năm giật mình rớt cái chày đang dầm mắm xuống đất.
Dì ngồi trầm ngâm rất lâu khi tôi kể chuyện rùng mình ngoài bãi biển. Lát sau, chừng lâu lắm, dì vào trong buồng. Lúc trở ra trên tay có thêm một khung ảnh cũ. Màu gỗ lâu năm lên men bóng lưỡng dưới những ngón tay dì dịu dàng miết lên.
Và dưới mặt kính sạch lau không một lớp bụi, khuôn mặt trong ảnh làm tôi dội ngược.
“Là con bé đó!” - tôi buột kêu lên
“Là chị Hai con” - dì Năm run bàn tay đặt lên mặt kính - Nghe con kể dì đã đoán là nó. Người ở đây không ai không gặp nó ngoài biển, kêu phải đi về nhà. Mỗi dì với thằng Kiên, chờ hoài, đợi hoài hơn chục năm rồi mà nó không cho gặp. Con nhỏ thiệt tệ!”.
Trên khung ảnh, tôi thấy đã lấm chấm rơi mấy giọt nước tròn tròn. Rồi cứ thế chúng rơi chồng lên nhau, loang mãi theo lời dì kể:
“Chị Hai con hồi xưa giỏi lắm, nó học năm nào cũng nhất lớp. Có nó, dì để thằng Kiên ở nhà đi gánh cá cả ngày cũng không lo. Nó ru em, dỗ em ăn, tắm rửa thay đồ. Con chị người nhỏ chút đi đâu cũng nách thằng em như con mèo ốm nhách tha con. Nhớ lại mà thấy thương nó quá chừng…”.
“Rồi sao mà chị mất hả dì?” - nắm lấy bàn tay dì gầy guộc, tôi hỏi. Gương mặt trẻ con trong sáng của người chị trong tấm ảnh kia làm tôi trong chốc lát mà trải qua bao nhiêu cảm xúc nào ngạc nhiên, nào sợ hãi, rồi xúc động, bàng hoàng. “Nghỉ hè. Nó theo tụi con nít gỡ sò. Rồi trượt chân. Ai mà biết dưới ghềnh đá lại có xoáy nước. Sóng tạt nó ra tuốt chỗ bãi người ta xây khu du lịch bây giờ”.
“Gần ghềnh đá có một xoáy nước rất sâu”. Tôi nhắm mắt rùng mình nghĩ đến mặt nước hun hút, đen thẳm suýt bước chân vào.
Là chị xuất hiện để ngăn tôi. Tôi rốt cuộc vẫn là một đứa hèn nhát đáng thương. Tôi dìm chết ngày mai trong nỗi buồn đã cũ. Tôi chìm nghỉm giữa những hồi ức, những dằn vặt, những tức giận nguyền rủa bản thân vô dụng.
Tôi không nhận ra tôi hạnh phúc.
“Chị có thể về với mẹ”. Đúng rồi. Với người chị của tôi đó là nuối tiếc duy nhất. Điều tôi đang có, mà không nhận ra mình may mắn thế nào khi có nó.
Mẹ không nói “Cố lên” như Di, nhưng mẹ pha cho tôi ly sữa nóng lúc tôi vò nát tờ giấy báo điểm thi, trùm mềm kín trên giường, bỏ ăn và khóc.
Mẹ không đan tay tôi vào tay mẹ, tặng bài hát có tí tách tiếng mưa. Nhưng mẹ cầm áo mưa đứng đợi tôi suốt hai tiếng trước lớp ôn thi. Mẹ sợ tôi bị ướt.
Và mẹ, không ôm tôi vào lòng ngày Di lên máy bay, nói như bao người mẹ khác: “Khóc đi con”. Mà chỉ đặt vào tay tôi tấm vé xe: “Con cần đi đổi gió!”.
Tình thương yêu đâu phải lúc nào cũng được biểu hiện giống nhau.
Lúc này đây, bên cạnh dì tôi, người mẹ đang khóc cho nỗi đau mất con không bao giờ cũ dù trải bao năm tháng. Tôi nhận ra rõ ràng rằng với mọi người mẹ, không phải ai, không điều gì khác, mà chính nỗi buồn, nỗi bất hạnh của những đứa con chính là vết thương đau đớn nhất trong tim. Vết thương ấy có thể chỉ hằn trên da con, nhưng với mẹ, nó đã ngập vào sâu, tứa máu.
Những giọt nước mắt mẹ cho nỗi buồn của tôi phải chăng đã rơi không biết bao nhiêu lần mà tôi không hay, không biết. Phải chăng…
3. Lén dì. Tôi lại ra biển, tối hôm sau
Lang thang trên bãi cát gần ghềnh đá, tôi đợi một vì sao trên biển. Một ánh đèn đánh cá xa tít, nhưng rực rỡ nhất giữa những dãy đèn lung linh như chuỗi vòng ngọc trai trên mái tóc biển đêm. Không hiểu sao tôi tin đó là ánh đèn của Kiên.
Dù chênh vênh với mơ ước, sống hết mình với hiện thực, anh luôn là ngọn đèn sáng nhất. Dì tôi nói tàu anh luôn là con tàu đầy cá nhất lúc trở về. Dì còn khoe: có cô giáo trẻ ở trường học sau hàng dương những sáng tàu anh về hay đi tạt qua nhà với khuôn mặt ửng đỏ.
Mai khóa ôn thi mới lại bắt đầu, giờ tôi sẽ về thành phố để viết cho được những ước mơ dang dở của mình. Ước mơ của riêng tôi. Nhưng tôi biết, cũng là của mẹ, của dì Năm, của Kiên, của bao người thân yêu bên cạnh và yêu thương tôi sâu sắc.
“Cả chị cũng rất thương em, phải không chị gái trẻ con?”- trong gió tôi nghe tiếng mình thì thầm.
Chỉ có sóng trả lời tôi bằng những âm vang ầm ì quen thuộc.
“Chị đã về lại với ghềnh đá rồi, phải không?”- tự nhiên, tôi mong ghê gớm được thấy một dáng trẻ con có khuôn mặt bầu bầu.
Tôi sẽ không bỏ chạy, tôi sẽ không sợ hãi, dù chị có giận mà hù tôi bằng đôi chân không chạm đất.
Tôi sẽ nắm lấy đôi bàn tay nhỏ bé của chị mà dắt về nhà. Chị đã nói: Chỉ cần về nhà, chị sẽ ấm. Tôi thầm nhủ trong lòng.
Nhưng có lẽ chị không tin tôi rồi. Nên cả buổi đêm, chỉ mình tôi lang thang với những cuộn sóng mềm ca hát phía xa xa.
Chỉ có sóng và biển biết:
Đêm ấy, tôi đã đợi mãi một con ma.
Áo Trắng số 13 ra ngày 15/07/2012 hiện đã có mặt tại các sạp báo. Mời bạn đọc đón mua để thưởng thức được toàn bộ nội dung của ấn phẩm này. |


Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận