Anh Tấn là anh cả của gia đình và không cùng cha với tôi. Anh cao, hơi gầy một chút, nghiêm nghị đến mức gần như khắc khổ, có lẽ vì hoàn cảnh phải sớm vật lộn với cuộc sống để mưu sinh.
Chiến tranh ác liệt, mẹ tản cư ra chợ, anh ở lại quê với ngoại và mấy cậu. Anh Hai làm ruộng từ nhỏ: nhổ cỏ, đắp bờ, cấy lúa, gặt... Tất tần tật những việc liên quan đến lúa thóc anh đều rành.
Ngoại có đất nhiều, do ông khai khẩn từ xưa. Phần đất ruộng của ngoại chạy dài tít tắp, hơn trăm công tầm cấy. Ngoại cắt chia ra cho các dì các cậu, người ít người nhiều song ai cũng có. Phần mẹ được mỗi 3 công, lại ở tuốt đầu đất! Từ nhà ngoại đi đến mảnh đất mẹ được chia lội mỏi dò. Đầu đất ở cạnh nghĩa địa, mộ đất lúp xúp ẩn hiện trong những lùm cây.
Mẹ và mấy con nhỏ ở thị trấn, anh Tấn nhận hết việc đồng áng trên 3 công đất ngoại cho. Anh chưa đủ lớn để làm việc nặng, song anh đã làm hết. Lâu lâu anh mới ra chợ thăm mẹ và các em.
Tôi vẫn nhớ như in hình ảnh quê mùa của anh Hai mình. Cho dù các em là dân nghèo ở chợ, song dù gì vẫn là dân chợ. Anh Hai thì chân cẳng đóng phèn, nét mặt chân chất, khác hẳn chúng tôi. Anh ra thăm mẹ và em không khi nào đi tay không, lần nào cũng mang cái gì đó. Khi thì mấy con vạc anh gài bẫy được, lúc lại mấy con cò, rồi củ năng, mấy ký nếp… Để có mấy thứ quà quê ấy hẳn anh vất vả nhiều.
Tới mùa thu hoạch lúa, anh phơi khô và cùng mấy cậu chở ra chợ cho mẹ. Ở thị trấn mà nhà tôi có bồ lúa hơn trăm giạ, hết gạo chỉ việc chở ra nhà máy xay xát. Những hạt gạo đầy mồ hôi của anh Hai…
Chiến tranh hết, anh Hai ra ở với mẹ và các em nhiều hơn, song vẫn gắn bó với mảnh ruộng bé tí trên đầu đất. Anh thật tài, dành dụm cách nào đó mà mua thêm được năm công tầm cấy, ở gần mảnh đất ngoại cho. Như vậy nhà tôi được 8 công rưỡi đất thuộc, cả một tài sản!
Những lần tôi về thăm ngoại, anh đều rất mừng. Anh dắt tôi đi khoe khắp xóm, “em tôi đó”, không hề có chút gì cùng cha hay khác cha. Nhớ có lần anh để tôi lên xe, loại xe nhựa trẻ em, rồi cột dây kéo tôi chạy vòng vòng trên sân lúa, tôi khóc thét vì sợ, giờ nhớ lại thấy thương anh mình vô cùng, chắc anh ở với ngoại một mình buồn lắm.
Anh làm ná thun bằng sừng trâu rồi chỉ tôi cách bắn chim. Anh cõng tôi trên vai, trong mưa lất phất, đi ra ruộng đào củ năn. Tôi nhớ anh Hai mình đã chặt trúc làm ống thụt cho em bắn chơi, với trái trứng vịt… Anh thương tôi vô cùng.
Những khi ra thị trấn, anh Hai lọng cọng với chợ búa, bó tay bó chân vì không quen. Anh làm cần câu cua, rủ mấy người Khmer trong xóm đi xa mấy cây số để câu. Nhiều lần anh dắt tôi theo, chỉ cho cách câu cua, câu lịch. Anh Hai cao lớn vác bó cần câu đi trước, đứa em trắng trẻo lúp xúp chạy theo sau! Hình ảnh đó mãi mãi ở trong lòng tôi.
Tôi tương đối có học một chút, còn anh đọc chữ không thạo. Có lần theo anh đi câu lịch, mắc mưa đụt trong lùm cây mắm, anh kêu tôi kể chuyên: “Chuyện em học ở trường, trong sách đó”, và tôi kể. Khi ấy tôi kể chuyện người học trò nghèo thông minh chuyên bênh vực người cô thế, lý luận về thóc nấu chín không thể nảy mầm và con gà luộc. Anh nghe chăm chú. Hồi sau buột miệng nói nhỏ, thật thà: “Sau này em nuôi mẹ nghen!”.
***
Anh Hai của tôi không được sống lâu trên đời. Lần đó, vào năm 1979, trên đường từ ruộng ra chợ thăm mẹ, anh vướng bệnh gì đó, ngã trên đường ruộng, trong mưa. Khi người ta chở anh về tới nhà thì anh đã bất tỉnh.
Thời bao cấp, khó khăn, xe cộ thuốc men đều khan hiếm. Bệnh viện huyện thiếu cả dịch truyền, xe cấp cứu ọp ẹp chở anh lên bệnh viện tỉnh thì anh gần như đã chết thực vật. Mẹ, cậu ở suốt với anh, tôi ở nhà với dì. Mười mấy ngày sau người ta đưa anh Hai về, anh đã chết.
Mùa mưa, đám tang lạnh lẽo của người trai trẻ buồn thiu. Hình như anh có quen với chị Hạnh cạnh nhà, thấy chị cứ len lén khóc. Người ta đưa anh về ruộng, quê ngoại. Tôi bưng lư hương xuống ghe, đưa anh về quê. Anh không quen với chợ, sống với ruộng, giờ về ruộng.
Mảnh đất khi xưa anh cấy cày, chỗ nào anh Hai đào củ năn cho em, chỗ nào anh đặt bẫy cò ke bắt chim cò đem ra chợ cho mẹ. Ai cũng khóc, mẹ tôi như lịm đi. Huyệt đào lên vội vàng, đầy nước và anh Hai vĩnh viễn yên nghỉ trên đầu đất, nơi cúm núm kêu thảm mỗi chiều tối.
Đã mấy mươi năm nhưng tôi vẫn không thể nào nguôi cảm giác đau đớn khi nhìn huyệt mộ đầy nước, vì nghèo mà không thể xây mộ được cho anh. Anh ra đi khi chưa có một tình yêu đôi lứa, còn chị Hạnh hình như mới quen thôi nhưng chị đã khóc.
Anh Tấn ơi, hãy yên nghỉ nhé anh, em nuôi mẹ, như anh đã dặn dò…
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận