Phóng to |
Kinh nghiệm này không làm cho Park ương ngạnh từ bỏ thái độ phớt lờ nhóm tham mưu kinh tế của mình trong tương lai. Khi quyền lực của Park ngày càng mạnh lên thì ông càng trở nên thích hành động một mình. Những bước đi mà Park thực hiện, thường là bị phản đối kịch liệt, đã định lại hình hài của nền kinh tế và nhào nặn ra Tập đoàn Hàn Quốc.
Một ví dụ tiêu biểu là tuyến đường cao tốc xuyên quốc gia đầu tiên của Hàn Quốc. Park bị ám ảnh với việc xây dựng một hệ thống xa lộ tại Hàn Quốc sau một chuyến thăm Tây Đức vào năm 1964. Ông yêu cầu cho xe chạy chậm lại trên một xa lộ ở Đức và bị ấn tượng mạnh đến nỗi hai lần yêu cầu tài xế dừng lại để xem xét mặt đường, các rào chắn phân cách và những chi tiết xây dựng khác.
Một nhân viên người Đức đã trải một tấm bản đồ Tây Đức, thuyết minh cho Park thấy mạng lưới giao thông đường bộ rộng khắp của nước mình và trình bày sơ qua những lợi ích kinh tế của mạng lưới này. Park tin rằng Hàn Quốc cũng cần một hệ thống đường cao tốc của riêng mình để thúc đẩy giao thương và nâng cao hiệu quả kinh tế. Nối Seoul và Pusan, hai thành phố lớn nhất của Hàn Quốc, bằng một con đường cao tốc trở thành ưu tiên hàng đầu của Park.
Có rất ít người nhất trí với ý tưởng này. Năm 1965, chính phủ Hàn Quốc yêu cầu Ngân hàng Thế giới (WB) tiến hành một cuộc nghiên cứu về giao thông đường bộ của Hàn Quốc. Báo cáo của WB ủng hộ thực hiện một chương trình xây dựng khiêm tốn hơn rất nhiều, không có những xa lộ lớn. Park bác bỏ nghiên cứu này. Park nhận định nền kinh tế đã phát triển vượt xa các mục tiêu đã đề ra trong các kế hoạch 5 năm của ông; cho nên, Hàn Quốc cần xây dựng các xa lộ nhanh hơn rất nhiều so với những gì mà WB hình dung.
Tuy nhiên, ngay chính trong nội bộ chính phủ, các kế hoạch của Park cũng vấp phải sự chống đối. Chi phí xây dựng riêng xa lộ nối Seoul và Pusan cũng đã lớn hơn tổng ngân sách quốc gia năm 1967. Quốc hội, vốn hay phục tùng mệnh lệnh, lần đầu tiên từ chối không thông qua ngân sách tài trợ cho dự án này của Park. Thậm chí nhiều thành viên trong đảng của Park cũng phản đối.
Không nao núng, Park quyết định đích thân xúc tiến dự án. Ông ra lệnh cho các trợ lý thu thập thông tin về việc xây dựng đường cao tốc tại nhiều nước từ vùng Andes cho đến Siberia và chính ông sau đó đọc ngấu nghiến những thông tin đó. Ông bay ngược bay xuôi Hàn Quốc trên một chiếc trực thăng cùng với các kỹ sư của Bộ Xây dựng để vẽ tuyến đường dự kiến vào một cuốn vở nháp kê trên đầu gối của mình. Trong quá trình xây dựng, trực thăng của Park có mặt ở khắp nơi, lao đến hết địa điểm này tới địa điểm khác để giải quyết những vấn đề khó khăn vướng mắc.
Một kỹ sư đã làm cho dự án xây dựng tuyến đường cao tốc Seoul - Pusan cho biết: “Nếu ngài Park không biết câu trả lời (cho một vấn đề) vào ngày thứ 3, ông sẽ quay trở lại vào ngày thứ 5 hoặc thứ 6 cùng với lời giải đáp”. Cuối cùng, Park đã có được con đường của mình trong thời gian hoàn thành kỉ lục. Toàn bộ quãng đường dài 428km đã hoàn tất vào năm 1970, chỉ sau 2 năm 5 tháng xây dựng.
Một dự án bị chống đối mạnh mẽ nổi tiếng của Park là dự án xây dựng Công ty Sắt thép Pohang vốn được biết nhiều hơn với cái tên viết tắt là POSCO. Trong tất cả vô số kế hoạch công nghiệp không đếm xuể của Park, không có cái nào ý nghĩa với ông bằng giấc mơ xây dựng một nhà máy thép.
Với Park, thép là hạt nhân của phát triển công nghiệp Hàn Quốc, một nhân tố cấu thành cần thiết của ngành xây dựng, công nghiệp nặng và cơ sở hạ tầng. Thậm chí nó còn quan trọng hơn nhiều vì Park cho rằng thép đóng vai trò then chốt trong việc bảo vệ đất nước khỏi (sự tấn công của) CHDCND Triều Tiên.49 Park đã tự tay viết một biểu ngữ gửi đến POSCO: “Thép là sức mạnh quốc gia” (biểu ngữ này cho đến nay vẫn còn được treo tại trụ sở chính của POSCO tại Seoul).
Tuy nhiên, nhà máy thép bị cho là một dự án thậm chí còn viển vông hơn dự án đường cao tốc. Hàn Quốc không có công nghệ, không có kỹ sư được đào tạo, không có kinh nghiệm trong ngành sản xuất thép, không có tiền cũng chẳng có nguyên vật liệu thô. Thị trường trong nước nhỏ bé không thể truyền sức mạnh cho dự án nhà máy thép khổng lồ phục vụ mục tiêu hội nhập mà Park muốn.
Một nghiên cứu khác của Ngân hàng Thế giới kết luận ý tưởng của Park là “đề xuất hấp tấp không khả thi về kinh tế”. Tuy vậy, chế độ mới của Park vẫn đưa vấn đề phát triển nhà máy vào kế hoạch 5 năm lần thứ nhất của mình và Park vô cùng mất tinh thần khi thấy đất nước không thể khởi động được dự án.
Ông quay sang Park Tae Joon, viên đại tá trẻ đã ủng hộ cuộc đảo chính của ông. Cả hai nhân vật họ Park đều có hoàn cảnh xuất thân tương tự nhau. Park Tae Joon sinh ra trong một gia đình nghèo và học lên cao dần trong hệ thống giáo dục Nhật Bản, đậu vào trường đại học Waseda danh tiếng của Nhật, nơi ông theo học ngành kỹ sư cơ khí. Sau cuộc đảo chính năm 1961, Park Chung Hee đã bổ nhiệm nhân vật họ Park trẻ tuổi làm Tổng Thư ký Thứ nhất của mình.
Ba năm sau, Park Tae Joon được điều sang đảm nhận một nhiệm vụ khác: phục hồi một công ty sản xuất vonfram của nhà nước làm ăn thua lỗ và đầy rẫy bê bối. Viên đại tá trẻ họ Park đã nhanh chóng xoay chuyển được tình hình dù không có một chút kinh nghiệm kinh doanh nào. Ấn tượng mạnh trước tài năng của Park Tae Joon, vị tổng thống quyết định chọn người thuộc cấp trẻ làm việc tích cực và chu đáo được ông che chở làm người chịu trách nhiệm triển khai xây dựng nhà máy thép.
Năm 1965, ông yêu cầu Park Tae Joon chỉ huy dự án. Ban đầu, Park Tae Joon từ chối. Nhà máy thép là một việc hết sức nản chí, thậm chí đối với Park trẻ. “Tôi có thể làm được gì về điều đó?”, ông phản ứng. Nhưng giống như thường lệ, Park Chung Hee đã quyết định rồi. Vị tổng thống nói: “Cho đến giờ, đó vẫn là một dự án thất bại. Vì vậy, anh phải gánh vác việc này.” Park Tae Joon xuôi lòng. Ông nói, tổng thống Park “có một niềm tin hết sức kỳ lạ rằng nếu ông ấy giao cho tôi một công việc phải làm thì tôi sẽ đảm nhận việc đó”.
Vấn đề trở ngại chính là tiền. Vào năm 1967, chính phủ Hàn Quốc thu xếp được một thỏa thuận hỗ trợ kỹ thuật với một liên doanh bao gồm nhiều công ty đến từ 5 nước khác nhau. Năm sau, công ty Sắt thép Pohang được sáp nhập thành doanh nghiệp nhà nước, nằm dưới sự lãnh đạo của Park Tae Joon. Việc xây dựng dự kiến khởi công vào đầu năm 1969. Tuy nhiên, cái ngày khởi công dự kiến đó cứ đến rồi lại qua còn tiền xây dựng nhà máy thì vẫn không huy động được.
Lo lắng, Park Tae Joon bay sang Pittsburgh (Mỹ) để gặp Fred Foy, chủ tịch một công ty công trình có nhiều ảnh hưởng tên là Koppers đồng thời cũng là người đã có công trong việc thành lập liên doanh. Foy viện dẫn nghiên cứu tiêu cực của Ngân hàng Thế giới về nhà máy thép và trả lời liên doanh không thể hỗ trợ hay đảm bảo tài chính cho POSCO.
Bất chấp những lời thuyết phục, biện hộ của Park Tae Joon trong một buổi họp tới nửa đêm với Foy, nhà điều hành doanh nghiệp người Mỹ vẫn khăng khăng khẳng định dự án nhà máy thép ở Hàn Quốc là không thể thực hiện được. Khi Park Tae Joon chán nản sửa soạn hành lý quay trở về nước thì Foy mời Park nghỉ lại một khu nghỉ dưỡng hướng ra biển tại Hawaii thuộc quyền sở hữu của một trong những đồng nghiệp của Foy. Quá mệt mỏi về thể chất lẫn tinh thần, Park chấp nhận lời mời.
Hòn đảo Hawaii đầy nắng cũng không làm cho tinh thần Park Tae Joon phấn chấn lên được. Nhà máy thép là tất cả những gì mà Park có thể nghĩ tới. “Không ai sẵn lòng đầu tư vào một nhà máy thép vì họ cho rằng nền tảng kinh tế của Hàn Quốc quá yếu không thể chứng minh cho sự thành công của một nhà máy,” Park lý giải. Trong khi nằm uể oải trên một tấm khăn ở bãi biển, Park chợt nảy ra một ý tưởng đột phá.
Ông tự hỏi tại sao không sử dụng tiền bồi thường thiệt hại chiến tranh từ Nhật Bản để tài trợ vốn cho POSCO? Năm 1965, Park Chung Hee đã gây ra một phản ứng mạnh mẽ khi bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản; đổi lại, Tokyo hứa sẽ trao cho Seoul một gói viện trợ và nhiều khoản cho vay. Tiền đã được đánh dấu dành riêng cho các dự án phát triển khác nhưng Park Tae Joon nghĩ số còn lại có thể được chuyển sang đầu tư vào POSCO.
Ông gọi cho Park Chung Hee ở Seoul. “Tại sao tôi không nghĩ ra được điều này nhỉ? Đó là một ý tưởng hay,” vị tổng thống phản hồi. Park Tae Joon triển khai liên lạc với phía Nhật Bản trong khi tổng thống và các bộ trưởng của tổng thống vận động hành lang đối với chính phủ nước này. Cuối cùng, Seoul cũng nhận được cái gật đầu thông qua của Tokyo. POSCO chuẩn bị cất cánh.
Nôn nóng muốn bù lại quãng thời gian đã mất, Park Tae Joon gò các nhóm xây dựng của mình theo một lịch làm việc mệt lử. Với một chiếc gậy batoong để chỉ đạo công việc, Park đi giám sát việc xây dựng, thậm chí vào lúc nửa đêm, khi công nhân làm việc dưới ánh đèn điện sáng choang. Chiếc gậy batoong trở thành biểu tượng cho nỗ lực không ngừng nghỉ của Park đồng thời cũng trở thành một vật tượng trưng cho sự kính sợ.
Suốt toàn thời gian xây dựng nhà máy, Park nghĩ rằng ông hiếm khi ngủ hơn 2-3 tiếng mỗi đêm. Hình ảnh trông giống một chú hề này đã mang lại cho Park nhiều biệt danh đầy sắc màu biểu cảm. Hết “Park đinamit (chất nổ)” rồi lại đến “ông máu lạnh”. Ngoài tiến độ nhanh chóng còn có một điều làm nổi rõ đặc trưng phong cách quản lý POSCO của Park là sự chú ý tập trung mang tính bắt buộc và cao độ đến mức ám ảnh đối với vấn đề chất lượng - điều thường bị bỏ sót trong các dự án do nhà nước đầu tư ở các nước đang phát triển.
Có một lần, Park quyết định đi kiểm tra khung nhà máy thép, toàn bộ từ chân móng lên tới trần với độ cao gần 92m. Ông phát hiện ra một số bulông bị lỏng - một lỗi tiềm ẩn thảm họa. Vậy là, cùng với một nhóm các nhà quản lý của mình, ông đã kiểm tra tất cả 240.000 bulông và dùng phấn trắng đánh dấu những chỗ cần phải sửa chữa, khắc phục.
Tháng 7-1973, hai vị họ Park cùng đẩy một thanh kim loại đang cháy đỏ rực vào bễ lò luyện hơi tại nhà máy POSCO, mở đầu thời kỳ luyện thép của Hàn Quốc. Park Tae Joon tiếp tục quản lý POSCO với một sự quyết tâm sắt đá cho đến tận năm 1992. Trong suốt thời gian đó, đòi hỏi không ngừng của Park đối với chất lượng và công nghệ đã biến POSCO trở thành một trong những nhà sản xuất thép có ảnh hưởng nhất và lớn nhất trên toàn thế giới.
Giống như những gì Park Chung Hee kỳ vọng, công ty này đã đặt nền móng cho bước tiến tiếp theo của Hàn Quốc đến Phép màu. Hàn Quốc đã chứng tỏ rằng các chuyên gia sai lầm.

Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận