Phóng to |
“Tôi quyết tâm nhổ tận gốc tất cả những mầm bệnh đang tồn tại bằng cách dọn sạch toàn bộ khu vực ô uế giống như dùng xẻng đào xới,” Park viết. Ông khẳng định, hoặc giả vờ như đau đớn trước quyết định thanh lọc không thương xót của mình. “Tôi buộc phải trừng trị họ trong nước mắt, nước mắt thật sự,” Park viết.
Quá trình “dọn sạch” này mới chỉ là màn dạo đầu của cái mà ông coi là nhiệm vụ cấp thiết nhất của mình: xây dựng kinh tế. Ông thấy phát ốm với điều kiện sống thê thảm của người dân Hàn Quốc. Park đặt quyết tâm: “Tôi phải phá vỡ, một lần và mãi mãi, vòng luẩn quẩn đói nghèo và trì trệ kinh tế. Trong đời sống con người, kinh tế phải đi trước chính trị hay văn hóa.” Sự ám ảnh của Park về phát triển kinh tế cũng bị tác động bởi mối lo ngại về an ninh.
Đối với Park, một nước công nghiệp là một quốc gia hùng mạnh có khả năng phát triển vũ khí và hậu thuẫn cho quân đội đủ để bảo vệ Hàn Quốc khỏi sự tấn công của bất cứ kẻ thù nào. Thậm chí, Park còn tin tưởng sâu sắc rằng người Hàn Quốc không thể dễ dàng trở thành dân tộc có chủ quyền thực sự nếu không có nền kinh tế phát triển thịnh vượng. Ông viết: “Hi vọng xây dựng một quốc gia toàn vẹn mà không có sự độc lập về kinh tế thật sự không khác gì đi câu cá ở trên cây”.
Giống như Sahashi ở MITI của Nhật Bản, Park cho rằng phát triển kinh tế không thể chỉ dựa vào mỗi khu vực kinh tế tư nhân. Nhà khoa học chính trị Woo Jung En lý giải Park và hội đồng quân sự của ông “là những người có nguồn gốc xuất thân từ nông dân và nuôi dưỡng… một mối nghi kị của người nhà quê đối với tầng lớp giàu có”. Họ tin rằng chủ nghĩa tư bản tự do là vỏ bọc cho một âm mưu của giới nhà giàu.
Park còn lo xa hơn rằng các doanh nghiệp tư nhân Hàn Quốc không có đủ nguồn lực và kỹ năng cần thiết để xây dựng một nền kinh tế vững mạnh nếu không có sự giúp đỡ của nhà nước. Ông cũng cho rằng sự phát triển kinh tế nhất thiết phải là một nỗ lực quốc gia mà trong đó những nguồn lực ít ỏi phải được giới lãnh đạo của đất nước sắp xếp và tận dụng hết mức.
Hệ thống kinh tế mà Park tạo ra chịu sự ảnh hưởng của hệ thống Nhật Bản. Ông đã du nhập trọn vẹn “mô hình châu Á” của chủ nghĩa tư bản tức cung cách “chọn ra những kẻ chiến thắng” của MITI rồi hỗ trợ họ thông qua việc cung cấp tài chính và thiết lập hàng rào bảo vệ. Park thiết lập những định chế quản lý nền kinh tế giống như ở Nhật Bản.
Các bộ tài chính và công nghiệp của Hàn Quốc thực hiện chức năng tương tự như của các cơ quan của Nhật Bản. Ngân hàng Phát triển Hàn Quốc cũng là một bản sao của Ngân hàng Phát triển Nhật Bản. “Từ hết lĩnh vực này đến lĩnh vực khác, chưa có quốc gia nào hưởng lợi từ việc hiểu rõ sự thành công của Nhật Bản nhiều hơn Hàn Quốc,” Giáo sư nghiên cứu về châu Á của trường đại học Harvard, Ezra Vogel, nhận xét.
Tuy nhiên, Park đã đưa “mô hình châu Á” lên một tầng nấc mới bằng cách tập trung hóa sự kiểm soát của nhà nước tới mức độ chưa từng có ở Nhật Bản. Hai tháng sau vụ đảo chính, Park và hội đồng của mình thành lập Ban hoạch định kinh tế (Economic Planning Board - EPB), một siêu ủy ban đứng trên các bộ riêng lẻ khác có quyền kiểm soát toàn bộ tiến trình phát triển.
EPB có nhiều quyền hành lớn hơn cơ quan hoạch định của Nhật Bản; nó không những phác thảo những ưu tiên trong chính sách của chính phủ và phối hợp giữa các bộ khác nhau mà còn phân bổ các nguồn lực ngân sách để triển khai thực hiện các chương trình của mình, thậm chí còn có quyền quyết định các chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương.
Một nhiệm vụ của EPB là vạch ra và giám sát các kế hoạch 5 năm của Hàn Quốc, những kế hoạch xác định các mục tiêu kinh tế của chính phủ và các chương trình mà chính phủ cho là cần thiết phải triển khai thực hiện để đạt được mục tiêu đó. Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất đã được soạn thảo ngay trong vòng vài tháng sau cuộc đảo chính của Park và bắt đầu được triển khai vào năm 1962.
Park cũng thực thi các biện pháp đảm bảo cộng đồng kinh doanh phải phụng sự cho những lợi ích của chính phủ. Một tháng sau chính biến, chế độ của Park thông qua Luật xử lý việc làm giàu bất hợp pháp, bộ luật cho phép Park bắt giữ các doanh nhân lớn, những người đã trở nên giàu có dưới các chế độ cũ, như “những kẻ đầu cơ trục lợi” và đe dọa bỏ tù họ, sung công tài sản của họ. Về sau, Park gian hùng lại cởi trói cho hầu hết các doanh nhân khỏi hình phạt.
Đáp lại, họ phải trả món nợ cho nhà nước bằng cách đầu tư vào những ngành nghề mà Park ưu tiên phát triển. Bốn tháng sau, Park thậm chí còn mở rộng tầm kiểm soát của mình lên nền kinh tế nhiều hơn. Thay vì quản lý hệ thống ngân hàng trực tiếp, giống như ở Nhật, Park quốc hữu hóa các ngân hàng của Hàn Quốc và kiểm soát trực tiếp hoạt động cho vay của các ngân hàng này. Park và những nhà kỹ trị của mình quyết định ngành nghề nào, dự án nào được vay vốn.
Những người nhận được sự hậu thuẫn như vậy chắc chắn phải là những nhà xuất khẩu chủ chốt. Giống như những người đồng cấp Nhật Bản, Park vội vàng lao ngay vào một chiến dịch xúc tiến xuất khẩu vì những lý do tương tự. Ở một quốc gia dựa vào xuất khẩu, Park cần có ngoại hối để mua tư liệu sản xuất và năng lượng cần thiết. Ông cũng muốn đặt nguồn viện trợ nước ngoài của Mỹ trở lại vai trò là nguồn cung cấp đồng tiền mạnh chủ chốt cho đất nước. Park có lần đã từng gọi xuất khẩu là “huyết mạch kinh tế”.
Bắt đầu vào năm 1964, chính phủ đánh bạo đưa ra hàng loạt chính sách nhằm mục đích mở rộng xuất khẩu, trong số đó có việc phá giá rồi sau đó là thả nổi đồng Won, tự do hóa cơ chế xuất khẩu nghiêm ngặt của Hàn Quốc để tạo điều kiện cho các công ty Hàn Quốc dễ dàng hơn trong việc đưa vào nước các loại máy móc, nguyên liệu thô và những bộ phận cấu thành cần thiết để sản xuất phục vụ xuất khẩu.
Tiếp đó, sang năm 1965, chính phủ Hàn Quốc làm theo phong cách của MITI là “nhắm tới” 13 loại ngành hàng mà họ xem là “những nhân tố chiến thắng” phục vụ cho chương trình xúc tiến đặc biệt. Danh sách đó bao gồm những ngành nghề đòi hỏi thâm dụng lao động, trong đó có sản xuất tơ tằm, vải sợi, cao su và máy thu thanh. Đó là những ngành hàng mà các nhà kỹ trị của Park cho rằng Hàn Quốc có lợi thế cạnh tranh đặc biệt nhờ vào lực lượng lao động dồi dào, chăm chỉ và có giá rẻ của mình.
Các công ty hoạt động trong những lĩnh vực này được hưởng nhiều đặc quyền từ phía chính phủ chẳng hạn như được vay vốn với lãi suất shấp, được cho nợ thuế đánh vào thu nhập có nguồn gốc từ xuất khẩu, được miễn giảm thuế đối với sản phẩm nhập khẩu đầu vào cần thiết. Bằng cách này, chính phủ Hàn Quốc đã thay đổi cơ cấu kích thích đầu tư của nền kinh tế, hay nói theo cách của Amsden là đã bóp méo giá cả, nhằm khuyến khích đầu tư vào những ngành nghề xuất khẩu bằng cách làm cho việc đầu tư kiểu này trở nên sinh lợi một cách bất tự nhiên.
Một Park Chung Hee tràn đầy sinh lực mạnh mẽ đã giám sát các kế hoạch phát triển của đất nước tỉ mỉ đến từng chi tiết. Theo Vogel thì Park đã hành xử “giống như một vị tư lệnh tiền tuyến”. Ông đã cho lập một “phòng xử lý tình huống” sát với văn phòng của mình để giám sát và theo dõi các chương trình đồng thời tổ chức các cuộc họp định kỳ hằng tháng, hằng quý với các bộ trưởng, các nhà chính trị, các giám đốc ngân hàng, các lãnh đạo doanh nghiệp, thậm chí với các lãnh đạo công nhân để kiểm tra tình trạng của họ.
Ông không ngớt quấy rầy các bộ trưởng bằng những cuộc điện thoại liên tục để đảm bảo chắc chắn là họ đang đáp ứng đúng thời hạn và mục tiêu. Kim Chung Yum, Bộ trưởng Tài chính kiêm Chánh văn phòng Phủ Tổng thống, viết: “Tổng thống Park giám sát tiến độ của từng dự án một, kể cả dự án công lẫn dự án tư”. Thậm chí những dự án ít tên tuổi cũng nhận được sự quan tâm theo dõi sát sao của Park. Chẳng hạn như đối với một chương trình cải tiến việc sử dụng nước ngầm, Park đã tổ chức hàng chục cuộc họp cho đến khi mọi khía cạnh của dự án được quyết định xong. Sau đó, đích thân ông đi thăm dự án.
Bất chấp việc kiểm soát nghiêm ngặt chính sách, Park vẫn thừa nhận một điều là ông có rất ít kinh nghiệm hay kiến thức học hành bài bản về kinh tế. Tuy nhiên, ông lại cởi mở một cách đáng ngạc nhiên đối với những ý kiến tham mưu của các chuyên gia kinh tế mà ông đã trọng dụng làm bộ trưởng hay trợ lý. Kim Chung Yum là một trong những người mà Park nhẫn nại lắng nghe nhất. Vào thời điểm xảy ra cuộc đảo chính năm 1961, Kim, một nhân viên của Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc, được giao nhiệm vụ ở New York làm người liên lạc giữa ngân hàng này với Cục Dự trữ Liên bang Mỹ.
Khi Park bắt đầu thanh trừng những người thuộc chế độ cũ, Kim vẫn còn đang ở Mỹ và lo sợ sẽ chịu chung số phận nếu mình trở về nước. Tuy nhiên, sống lưu vong tại Mỹ dường như cũng không phải là một lựa chọn tốt. Kim không dám tự tin rằng ông có thể chu cấp cho gia đình mình tại một đất nước xa lạ. Cảm thấy không còn có sự lựa chọn nào khác, Kim quay trở về Seoul. “Tôi hoàn toàn sợ hãi,” Kim bộc bạch. “Có một mối nguy hiểm đang treo lơ lửng là tôi sẽ bị tống vào tù.” Kim hi vọng kiến thức chuyên môn tinh thông của mình, đặc biệt là trong lĩnh vực tiền tệ, sẽ giúp mình an toàn.
Và Kim đã đúng. Được đưa vào làm trong ban nghiên cứu kinh tế của Cơ quan Tình báo Trung ương Hàn Quốc, chẳng bao lâu sau, ông được yêu cầu phải chuẩn bị một báo cáo về việc triển khai thực hiện một chính sách cải cách tiền tệ trọng đại mà hội đồng tướng lĩnh đang cân nhắc xem xét. Chính phủ sẽ thay đồng tiền cũ bằng một đồng tiền mới, đồng Won, và sẽ thay đổi các qui định của ngân hàng. Tất cả đều nhằm mục đích thúc đẩy đầu tư. Kim đã thiết kế toàn bộ chương trình thực thi đó trong khi thâm tâm vẫn tin rằng nỗ lực kiểu này sẽ gây tai họa cho nền kinh tế.
Khả năng chuyên môn của Kim đã gây ấn tượng mạnh lên hội đồng tướng lĩnh. Được triệu tập đến một cuộc họp với Park lần đầu tiên, Kim bước vào phòng họp và thấy Park đã ở đó, oai vệ trong dáng ngồi thẳng cứng với hai cánh tay dang rộng, “một nhân vật trầm lặng” với “lửa trong đôi mắt”, Kim nhớ lại. Những sĩ quan quân đội khác ngồi hai bên. Park lệnh cho Kim giảng giải về kế hoạch tiền tệ của mình cho tất cả mọi người.
Đó là một khung cảnh đáng sợ nhưng vì Kim cảm thấy những mối nguy hiểm của chương trình cải tổ theo kế hoạch quá lớn đến nỗi ông cho rằng mình buộc phải nói vì lợi ích của nền kinh tế. Ông trình bày với Park rằng vẫn có nhiều phương pháp ít quyết liệt hơn có thể áp dụng được để đạt cùng mục tiêu tương tự. Với vẻ không bị xáo trộn tâm trí trước lời phê bình, Park lắng nghe lời khuyên của Kim rồi sau đó phát biểu đại ý suy nghĩ của riêng mình.
Park nói nền kinh tế hiện là một mớ hỗn độn cho nên các biện pháp mạnh mẽ là cần thiết. Park không những không trừng phạt Kim vì tội chống đối mà Kim còn giành được sự tôn trọng của Park. Ông đã phục vụ cho Park gần như trong suốt thời gian Park cầm quyền.

Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận