Những dòng thơ đó tôi đọc được trên một chiếc xe kem dạo, được viết bằng thư pháp rất điêu luyện. Hơi bất ngờ, nhưng tôi đoán chủ nhân của nó hẳn là một ông đồ bị văn hóa phương Tây làm cho "thất nghiệp". Đưa điều băn khoăn của mình ra hỏi, tôi nhận được một nụ cười hiền hậu: "Ông viết đó, nhưng ông chỉ là người bán kem dạo thôi!".
Phóng to |
|
Ông Tiên và xe kem |
Bán kem trở thành nghiệp
Gọi là nghiệp vì thâm niên bán kem của ông đã lên tới 25 năm, con số mà hiếm người cùng nghề đạt được. "Âu đó cũng là cái số mà cũng là cái duyên" - ông bắt đầu câu chuyện như thế.
Ngày đó, chàng trai trẻ Lê Văn Tao ước mơ trở thành thầy giáo dạy văn. Vốn thông minh chăm chỉ, anh thi đậu vào Trường ĐHSP Huế. Niềm vui chưa kịp trọn, một tai nạn bất ngờ chặt ngang con đường vào đại học của Tao. Chôn vùi ước mơ được đứng trên bục giảng, ông bắt đầu rong ruổi trên con đường mưu sinh. Con đường dài vất vả bắt đầu từ cái nghề cày thuê cuốc mướn, bán kẹo kéo... Rồi một lần, trên chuyến tàu ngược vào Nha Trang, ông gặp lại người bạn cũ và được truyền cho nghề bán kem. Tưởng chỉ làm dăm năm rồi thôi, ai ngờ nghề theo ông đến tận bây giờ.
Hồi những năm 80 của thế kỷ trước, những vị khách trên chuyến tàu Nha Trang - Huế không ai không biết "thương hiệu" kem ông Tiên. Nhân viên kiểm soát vé quen mặt người đàn ông bán kem nuôi vợ và sáu đứa con này cũng không đành lòng thu vé. Những đêm khuya, chồng chềnh trên toa tàu, lòng ông lại đau đáu hướng về con cái và người vợ tần tảo. Ông tâm sự: "Vất vả lắm, nhưng nghĩ đến món tiền kiếm được giúp con nộp học, giúp vợ trang trải thứ này thứ khác thì quên hết". Cứ thế, tháng này sang năm khác, ông ngược xuôi trên những chuyến tàu, bán kem nuôi các con lớn khôn.
Không phụ công cha, các con ông đều trưởng thành, có chỗ đứng nhất định trong xã hội. Ba người con gái đầu đã lập gia đình và ra sống riêng, chị thứ tư hiện đang là bác sĩ, anh con trai vừa tốt nghiệp khoa CNTT ĐHKH Huế, còn cô con gái út đang là sinh viên năm cuối Trường CĐYT.
Khi tôi tò mò về cái tên "kem ông Tiên", ông cười sảng khoái: "Khách hàng là Thượng đế, người mang thức ăn cho Thượng đế là Tiên chứ còn ai nữa...". Cách lý giải hồn hậu, mộc mạc mà lại đầy chất thơ.
Nghề nào cũng có vinh nhục, dù là nghề bình thường hay cao sang, huống hồ là cái nghề đã theo con người ta suốt 25 năm trời. Với ông Tiên, cái vinh đơn giản là nhìn thấy nụ cười của những vị khách tí hon. Ông vui vẻ tâm sự chuyện nghề. Có lần đang đạp xe trên đường bỗng có đứa bé khoảng 7, 8 tuổi chạy ra kêu ông lại: "Mẹ con nói ra mua kem cho ông nì, ngày trước mẹ con hay ăn kem của ông lắm, có lần làm đổ cả xe kem của ông tề...". Hai thế hệ cùng ăn kem của một người bán kem dạo. Câu chuyện nghe thật thú vị!
Lại một chuyện khác, có cô bé ăn kem từ hồi còn nhỏ xíu, lúc ông còn bế được trên tay. Ngày lên cấp III vẫn là khách hàng trung thành của ông. Bây giờ đã là sinh viên, xa nhà nhưng mỗi khi về Huế, gặp ông cô vẫn ríu rít gọi như thời còn bé. Ông cười hiền dịu: "Đúng là nghề mô cũng có niềm vui, nỗi buồn. Họ ăn kem thôi nhưng vẫn có cái tình, họ nhớ mình. Niềm vui của người bán kem chỉ đơn giản thế thôi!".
Lần nữa, ông bán kem cho một vị khách nước ngoài. Quá thích thú vì cách nói chuyện duyên dáng, thông minh của ông, vị khách này đã tự nguyện đứng "rao" hàng cho ông suốt cả buổi, dưới cái nắng gắt của trưa hè xứ Huế. Khách qua đường thấy một "cô Tây" rao kem cho một "ông ta", tò mò dừng lại mua rất đông, chốc lát thùng kem của ông đã hết veo... Câu chuyện về "ông Tiên Việt Nam bán kem" chắc chắn sẽ nằm trong hành trang cùng cô về nước. Và vô tình ông đã trở thành "sứ giả văn hóa" giới thiệu những nét đẹp bình dị, hồn hậu của người Huế ra thế giới.
"Làm thơ để sống!"
Là người lao động bình thường nhưng người đàn ông lớn tuổi này lại có cái thú của người nghệ sĩ: làm thơ, ngâm thơ, viết thư pháp... Ông làm thơ để chiêm nghiệm cuộc đời, để lưu lại những phút giây thăng hoa của tâm hồn. Thơ ông giản dị như chính cuộc đời ông, nhưng luôn ngập tràn cảm xúc và nhiều trăn trở. Cả lúc éo le nhất tứ thơ vẫn bật lên như thể nó vốn đã ở đó. Một ngày, vừa dắt xe kem ra khỏi nhà, trời bỗng đổ mưa tầm tã, ông viết:
Trên nớ đi về có kẻ mặc áo mưaMình dưới đi lên thùng kem đầy nhóc Ta đi vào cơn mưa nên trời thương, trời khóc (?)Đám học trò ngơ ngác nhìn theo.
Như bao người Việt Nam thời chiến tranh, cuộc đời ông là một câu chuyện dài nhiều truân chuyên. Vết tích những tháng năm vất vả hằn lên khuôn mặt ông nhiều nếp gấp mệt mỏi. Kể lại quãng thời gian khó khăn nhất cuộc đời mình, dù không khỏi chạnh lòng nhưng ông vẫn cười rất lạc quan: "Hồi đó vất vả lắm, một nách sáu đứa con mà lận lưng chỉ có nghề bán kem, nhưng tình thương con bao la giúp ông vượt qua tất cả, bản năng của người cha là thế, thiêng liêng lắm!".
Suốt cuộc đời, ông luôn tự hào là người làm ăn lương thiện, không trộm cướp hay nhờ vả, dựa dẫm vào ai. Cuộc sống thiếu thốn, ông vẫn giữ được sự thanh bạch trong cốt cách, tìm thấy hạnh phúc ngay cả lúc khó khăn, túng thiếu.
Ông nói: "Sống phải biết đủ mới hạnh phúc", đoạn thong thả đọc hai câu thơ của Nguyễn Công Trứ: "Tri túc tiện túc đãi túc hà thời túc. Tri nhàn tiện nhàn đãi nhàn hà thời nhàn". Trong ông tôi cảm nhận được chất người Huế thâm trầm sâu lắng, dịu dàng mà mạnh mẽ. "Một người xô sập bức tường chưa chắc đã mạnh; một người bị nguyền rủa, chê bai, chửi bới vào mặt nhưng vẫn bình thản, mới là người thật sự mạnh" - ông nói như đúc kết cuộc đời mình.
Ở tuổi lục tuần, ông Tiên vẫn sống hết mình với tất thảy. Sự vô tình của cuộc đời dường như cũng bất lực, không thể làm chai sạn trái tim người nghệ sĩ trong ông.
Đời vẫn đẹp vì ta còn biết hátTình còn nồng ta mới biết làm thơTình yêu em cho mãi đến bây giờEm có biết ta làm thơ để sống.
Áo Trắng số 16 (ra ngày 1-9-2009) hiện đã có mặt tại các sạp báo. Mời bạn đọc đón mua để thưởng thức được toàn bộ nội dung của ấn phẩm này. |


Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận