Phóng to |
Có hai nguyên nhân. Trước hết, số lượng người nhập cư tăng theo cấp số nhân. Và thứ hai, mục tiêu của các thế lực thực dân cầm quyền vừa thay đổi lại vừa được mở rộng.
Công nghệ đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự bùng nổ di trú. Những con tàu chạy bằng hơi nước đầu tiên đưa vào sử dụng từ những năm 1840, được sử dụng rộng rãi để chuyên chở hành khách ở châu Á vào những năm 1860.
Cái gọi là Cuộc chiến tranh thuốc phiện 1839-1842 và 1856-1860 thúc đẩy việc mở ra các hải cảng lớn ven biển Trung Quốc, đặc biệt là những trung tâm di trú truyền thống của miền nam, và những trung tâm này nhanh chóng được kết nối với nhau bằng tuyến tàu chạy bằng hơi nước tới các hải cảng lớn của Đông Nam Á.
Nhiều cuộc di trú được xác định bằng điểm đến của tuyến tàu chạy bằng hơi nước của địa phương. Ví dụ, việc mở một dịch vụ từ Hải Khẩu của tỉnh đảo Hải Nam tới Bangkok là lý do chính giải thích rằng nhiều người có tổ tông gốc Hải Nam đang sống ở Thái Lan. Những ước lượng chính xác nhất cho biết vào khoảng năm 1850 có nửa triệu người gốc Hoa, lai và không lai, sống trên những lãnh thổ mà chúng ta đang khảo sát. Họ tập trung nhiều nhất ở Thái Lan và Indonesia, cùng với Hồng Kông, Singapore và Malaysia (chưa sáp nhập chính thức vào đế quốc Anh).
Trước Chiến tranh Thế giới thứ nhất, có 3-4 triệu người gốc Hoa trong khu vực, phần lớn thuộc thế hệ thứ nhất. Có một danh sách ngày càng dài các lý do làm cho người ta rời khỏi Trung Quốc.
Đất nước này chịu sức ép lớn về dân số từ thế kỷ XVIII. Những cuộc bạo loạn xảy ra với tần số ngày càng tăng, tạo ra những xung đột lớn giữa thế kỷ XIX: các cuộc bạo loạn của người Hồi giáo ở miền tây nam và tây bắc Trung Quốc, các cuộc khởi nghĩa Niệp Quân và Thái Bình Thiên Quốc ở những tỉnh thuộc trung nguyên.
Cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc được một người tin rằng ông ta chính là em trai của Đức Chúa Giê-xu và một người cấp phó tự xưng là Thần Ma lãnh đạo đã gây ra rắc rối lớn nhất; nó đã lấy đi sinh mạng của hàng chục triệu người trong những thập niên 1850 và 1860.
Khi những con tàu chạy bằng hơi nước đưa họ ra khỏi nơi mà một sử gia gọi là “một môi trường theo thuyết Man-tuýt triệt để”, những người Trung Quốc ở miền nam nhận thấy điểm đến Đông Nam Á với dân cư thưa thớt và tương đối thanh bình có sức lôi cuốn nhất: giá trị ngày công lao động lớn gấp nhiều lần ở quê hương.
Vào giữa thế kỷ XIX, Thái Lan chỉ có 5 triệu dân, Malaysia có 2 triệu rưỡi và Indonesia có 23 triệu (Java là một nơi tương đối đông dân ở Đông Nam Á), bằng khoảng một phần mười dân số ngày nay. Những người di trú may mắn hơn được những người họ hàng hoặc bà con thân tộc đã định cư ở nước ngoài giúp đỡ, cả về tài chính lẫn công ăn việc làm.
Ngọn triều dâng của những người lao động nhập cư xảy ra trùng với bình minh của cái gọi là “chủ nghĩa đế quốc cấp cao” từ giữa thế kỷ XIX, và sự bùng nổ các mặt hàng đòi hỏi nhiều lao động có sức khoẻ và dẻo dai tiếp tục xảy ra vào thế kỷ XX. Từ những năm 1830, những hàng hóa độc quyền thương mại của Anh và Hà Lan bị hủy bỏ và các quốc gia châu Âu nắm quyền quản lý thuộc địa ở Đông Nam Á.
Một hiệp ước giữa Hà Lan và Anh năm 1824 phân chia những khu vực riêng về lợi ích báo trước một chiến dịch: người Hà Lan sẽ kiểm soát toàn bộ quần đảo Indonesia, và sau này là sự hiện diện của người Anh ở bán đảo Malaysia. Việc trực tiếp kiểm soát thuộc địa đôi khi là điều kiện quyết định cho sự phát triển những đồn điền mới rộng lớn hoặc những hầm mỏ - như ở bán đảo Malaya, nơi những hầm mỏ nhỏ của người Trung Quốc đã được thiết lập - xảy ra sau sự kiện này.
Ở một mức độ nào đó, có sự thúc đẩy mâu thuẫn chính trị ở châu Âu - một mặt để mở rộng các giới hạn của chính quyền thực dân, mặt khác để bãi bỏ nhiều lĩnh vực thương mại và đầu tư quốc tế. Trong một kỷ nguyên được mô tả bằng những ghi chép của Ricardo và Adam David Smith, cả Singapore (1819) lẫn Hồng Kông (1842) đều được thiết lập với tư cách là những hải cảng tự do không có sự hạn chế hoặc đánh thuế thương mại. (Những thứ thu được ở thuộc địa này cũng phản ánh lòng ham muốn kiểm soát các hòn đảo chiến lược của đế quốc Anh).
Một Thống đốc Hồng Kông đã thuyết phục người Thái Lan bãi bỏ các quy định về buôn bán bằng Hiệp ước Bowring vào năm 1855. Thậm chí những người Philippines lai Tây Ban Nha cũng chuyển sang hướng này, chấm dứt sự độc quyền thương mại của những tổng đốc cấp tỉnh vào năm 1844 và mở cửa cho doanh nghiệp nước ngoài. Vì cách mạng công nghiệp đã bỏ qua Tây Ban Nha nên nền thương mại bị các công ty Mỹ và Anh thống trị, với cờ hiệu nhỏ hơn một chút để nhắc nhở những nhà buôn rằng họ đang ở trên đất Tây Ban Nha.
Vào nửa cuối thế kỷ XIX, những quan điểm về sự bùng nổ do toàn cầu hóa, ở một vài khía cạnh nào đó, đã báo trước một điều sẽ bắt đầu trong những năm 1890. Động lực thúc đẩy nhu cầu là thế giới thiếu hàng hóa nông nghiệp và khoáng sản hoặc đang được chôn giấu dưới lòng đất Đông Nam Á, hoặc có thể được gieo trồng ở đó; những vùng đất rộng lớn luôn sẵn có để thành lập các đồn điền.
Sự hỗ trợ của công nghệ cùng với việc mở cửa kênh đào Xuy-ê năm 1869 và đồng thời, việc phát triển những con tàu chạy bằng hơi nước đã cho phép vận chuyển quanh năm khối lượng hàng hóa lớn với chi phí thấp. Các thiết bị toàn bộ dư thừa và rẻ nhờ có nguồn lao động nhập khẩu là người Ấn Độ và Trung Quốc.
Thật công bằng khi nói rằng phần lớn người Ấn Độ được nhập khẩu để làm việc trong các trang trại ở những thuộc địa của Anh và những phần đất của Indonesia, một số lao động chân tay phục vụ trong những dự án công trình công cộng và làm người hầu của các công chức thực dân; một nhóm tinh hoa nho nhỏ gồm những doanh nhân Ấn Độ - bao gồm người Parsees, Sindhis và Chettiar - trải rộng khắp khu vực.
Những người nhập cư Trung Quốc thống trị lĩnh vực khai mỏ, nhưng cũng tản rộng sang lĩnh vực bán buôn, bán lẻ - ngày nay gọi là các dịch vụ hậu cần - nông nghiệp và nhiều lĩnh vực khác. Điều này phản ánh một thực tế là người Trung Quốc bậc trung được tự do hơn trong việc lựa chọn quyết định nhập cư.
Phần lớn những người di cư Ấn Độ, trong khoảng thời gian giữa năm 1850 và Chiến tranh Thế giới thứ nhất, được ký giao kèo làm lao động nông nghiệp, có nghĩa rằng họ ký hợp đồng để làm việc ở các đồn điền, được chở tới những đồn điền đó và sống tập trung trong những lán trại, sau một thời gian - nếu họ sống sót - thường được gửi trả về Ấn Độ.
Người miền Nam Trung Quốc sử dụng các hệ thống tín phiếu, có nghĩa là những người di trú bị ràng buộc vào chủ sử dụng lao động cho đến khi họ đã trả hết chi phí di trú của họ, cả vốn lẫn lãi, nhưng sau này họ được ở lại Đông Nam Á và hòa nhập vào những cộng đồng người Trung Quốc ở hải ngoại đã được thành lập, chủ yếu là ở khu vực thành thị và bám rễ đã hàng thế kỷ.
Một báo cáo của Liên hiệp quốc về sự di trú được xuất bản năm 2004 đã làm một việc dũng cảm là cố gắng tập hợp những ghi chép có tính lịch sử của người Ấn Độ và kết luận rằng, có khoảng 30 triệu người Ấn Độ đã đi đến các vùng đất trên khắp thế giới từ năm 1834 cho đến năm 1937, nhưng 24 triệu người đã trở về. Chúng ta không biết tỉ lệ người Trung Quốc trở về vì Trung Quốc không có những ghi chép tầm quốc gia có thể so sánh với những gì người Anh và người Ấn Độ còn giữ được, nhưng chắc chắn là tỉ lệ này thấp hơn nhiều.
Sau đây là một luận điểm quan trọng. Có rất nhiều người Ấn Độ ở khắp khu vực Đông Nam Á thuộc địa nhưng họ không đóng vai trò quan trọng đối với các nền kinh tế địa phương trong một thời gian dài, bởi vì hầu hết họ không ở lại đủ lâu để có thể hòa nhập vào xã hội. Gần giống như người Trung Quốc, họ cũng là một nhóm người bị chà đạp nhưng bất hạnh hơn. Những arkatia - hay những nhà tuyển dụng Ấn Độ - người tổ chức đem nhân công xuất khẩu ra nước ngoài rất chú trọng đến các nhóm thiểu số ở dưới cùng của nấc thang đẳng cấp (không có khái niệm tương đương về xã hội học ở Trung Quốc), giống như người Tamils đến từ phía nam hoặc những người thuộc các bộ lạc sống ở vùng đồi núi đông bắc.
Những người này làm hài lòng các ông chủ đồn điền và chính quyền thực dân vì - không giống như người Trung Quốc thường tự cao tự đại hơn - họ chẳng hề gây ra một rắc rối nào. Ngài Frederic Weld, giám đốc Cơ quan định cư từ năm 1880 đến năm 1887, khi bàn giao công việc đã có một nhận xét về số lượng ngày càng gia tăng những người Ấn Độ được nhập khẩu vào khu vực này như sau: “Những người Ấn Độ là một chủng tộc yêu hòa bình và dễ cai trị”.
Có lẽ ông ta không nhận thức được rằng, ông ta đã nói về một nhóm người Ấn Độ không mấy tiêu biểu. Nông sản ban đầu đã lôi kéo người châu Âu tới Đông Nam Á là những đồ gia vị, được sử dụng chủ yếu để ướp thịt trong thời kỳ trước khi có công nghệ làm lạnh nhân tạo.
Nhưng trong thế kỷ XIX, đã xuất hiện thêm nhiều giống cây trồng khác có thể thu được tiền mặt, trong số đó mía đường ở Philippines và Thái Lan là quan trọng nhất. Sau đó đến thiếc, đầu tiên được những người Trung Quốc khai thác ở Indonesia nhưng sau này được phát hiện với trữ lượng nhiều hơn ở Malaysia và miền nam Thái Lan.
Vào thời điểm chuyển giao thế kỷ có cao su, và trong sản xuất cao su thì lao động người Ấn Độ vượt trội hơn nhiều, và đó là đầu vào cho buổi bình minh của xe ô tô và nhiều sản phẩm tiêu dùng khác. Cũng đã có sự bùng nổ các mặt hàng tiêu dùng trong khu vực và các tiến bộ về công nghệ tiếp tục làm tăng thêm quy mô thương mại. Ví dụ, trong khai mỏ, công nghệ mới đã giúp chuyển đổi hoạt động từ những công việc về cơ bản phải làm bằng tay với xà beng và cuốc chim sang công việc cơ khí quy mô lớn cùng các máy đào vét.

Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận