Hành hương về Đông Bắc

THU HÀ
THU HÀ

TTCN - Việc đưa vào vận hành cáp treo Yên Tử từng gây nhiều tranh cãi đã khiến cho Yên Tử không còn là “đỉnh non thiêng” mà chỉ những khách hành hương đủ sức khỏe, đức tin và lòng kiên nhẫn mới chinh phục được.

BPGnrRnD.jpgPhóng to
Hành hương về đất thiền Trúc Lâm
TTCN - Việc đưa vào vận hành cáp treo Yên Tử từng gây nhiều tranh cãi đã khiến cho Yên Tử không còn là “đỉnh non thiêng” mà chỉ những khách hành hương đủ sức khỏe, đức tin và lòng kiên nhẫn mới chinh phục được.

Nhưng mặt khác, nó cũng là một trong những nguyên nhân chính khiến khách hành hương đến Yên Tử tăng gần gấp đôi trong năm vừa qua (*). Và đó cũng là một trong những động lực để Quảng Ninh mở rộng vùng du lịch nhằm “giảm tải” cho vịnh Hạ Long. Một trung tâm du lịch mới đang hình thành: Yên Tử - Đông Triều - Yên Hưng.

Có thể nói, sau Hà Nội không ở đâu trên lãnh thổ VN có một số lượng các di tích lịch sử - văn hóa được xếp hạng quốc gia nhiều như ở vùng Đông Bắc này: số di tích là trên 200, được xếp hạng quốc gia là 31, và điểm đặc biệt là các di tích cho thấy sự tập trung dày đặc dấu ấn văn hóa của một thời đại rực rỡ nhất trong lịch sử VN: thời nhà Trần, với ba lần đánh thắng quân Nguyên, sự ra đời thiền phái Trúc Lâm, xây dựng thương cảng đầu tiên…

Từ non cao…

lCQvkAF1.jpgPhóng to
Cáp treo Yên Tử
Nổi tiếng nhất và phải được kể đến đầu tiên tất nhiên là Yên Tử. Vị vua đầu tiên trong lịch sử dân tộc đang đêm bỏ kinh thành lên núi đi tu chính là Trần Thái Tông, vua đầu của nhà Trần, và ông đã chọn Yên Tử không chỉ vì ở đó có sư Phù Vân thầy mình đang trụ trì, mà còn vì địa thế, vị trí quốc phòng, an ninh và cả cảnh đẹp của rừng trúc Yên Tử - đỉnh núi cao nhất trong vòng cung Đông Triều.

Việc nước chưa xong khiến Trần Thái Tông tu không trót, nhưng nửa thế kỷ sau thì cháu ông - Trần Nhân Tông - đã kiên quyết nhường ngôi cho con để lên Yên Tử lập thiền phái Trúc Lâm - giáo phái Phật giáo thuần Việt. Thời cực thịnh của thiền phái Trúc Lâm kéo theo sự hưng thịnh của kiến trúc Phật giáo thời Trần mà các chùa Hoa Yên, Bảo Sái, Vân Tiêu, Giải Oan, Cầm Thực… được xây dựng bề thế trên Yên Tử là những minh chứng vật chất hùng hồn.

Tuy chùa cũ không còn nhưng tại các nền móng cũ, khi xây dựng mới hoặc phục chế chùa cũ, các nhà khảo cổ và thợ xây dựng đã đào được vô số các vật dụng cùng các đá kê chân tảng, cột, ngói, lá đề… chạm khắc rồng, phượng, sen, cúc… mà độ tinh xảo không thua kém các hiện vật tìm thấy trong hoàng thành Thăng Long.

Hiện tại khách hành hương mới chỉ mải mê ngắm cảnh đường tùng với những rễ tùng cổ thụ hơn 600 năm tuổi đan thành bậc, ngắm rừng trúc Yên Tử bảng lảng trong sương sớm và đỏ rực buổi hoàng hôn; khi lên cao do đường trơn, sức đã cạn, ít ai còn thời gian và tâm trí đứng trước mộ Điều Ngự giác hoàng Trần Nhân Tông, thắp một nén hương và thêm một lần thầm phục tài, trí, đức, lòng nhân từ cũng như óc thẩm mỹ của vị vua kỳ lạ này.

Chỉ khi đã đỡ được nửa đường đi với cáp treo (cáp không được đi lên đỉnh chùa Đồng - nơi cao nhất của Yên Tử, mà chỉ được dừng ngang khu vực chùa chính Hoa Yên), khách hành hương có dịp bình tâm mà ngắm vòng cung Đông Triều từ trên cao, nhìn mãi ra biển Đông (vào những ngày trời trong), lặng im ngắm những di vật được khai quật từ lòng đất, và cũng có nhiều thời gian hơn để tìm hiểu về những trang sử kỳ vĩ của Yên Tử cùng những con người đã sáng lập ra địa danh này.

… Đến biển sâu

54uXVYB4.jpgPhóng to
Bãi cọc Bạch Đằng
Chỉ cách Yên Tử không đầy 30km là huyện duyên hải Yên Hưng, nơi tồn tại một di tích lịch sử vào bậc quan trọng nhất của đất nước: bãi cọc Bạch Đằng. Bãi cọc này được phát hiện năm 1959, ở độ sâu 2m so với mặt đất hiện tại. Những cây cọc dài khoảng 3,5m được vạt nhọn, cắm sâu xuống đáy sông như cách người dân biển cắm cọc neo thuyền.

Lúc mới được phát lộ, những cây cọc này còn mang màu trắng tươi, sờ vào nhũn như chất dẻo, một thời gian sau mới đen thẫm lại, rắn và đang mủn ra dần. Trên đất Yên Hưng có ba bãi cọc, đều được cắm ở các cửa sông nhánh của sông Bạch Đằng, sử chép đó chính là đường đi của 600 chiến thuyền chở 4 vạn quân của Ô Mã Nhi. Bãi cọc hiện được giữ như một bảo tàng ngoài trời đã ở sâu trong đất liền do biển rút, đất bồi.

Mấy chục đầu cọc nhọn giơ lên trong một vuông đất chừng 300m2 có tháo nước mặn vào để giữ môi trường ổn định cho gỗ, được bao xung quanh bởi kè ximăng không gợi lên cho kẻ hành hương được niềm tự hào về quá khứ hào hùng của cha ông, không kích thích được cái hào khí Đông A trong Bạch Đằng giang phú của Trương Hán Siêu. Đến, thấy và tiếc cho một di tích sống mà lẽ ra giá trị của nó phải được nhân lên gấp hàng ngàn lần hiện tại.

Ngay trong khu vực bãi cọc, chỉ cách vài trăm mét là những địa danh gợi nhớ thuở sơ khai khi con người mới tìm đến đây lập làng, lấn biển: phà Rừng, giếng Rừng, chợ Rừng, làng Rừng… khi ở đây rừng còn bao phủ lên tất cả. Nổi bật trên nền xanh của sú vẹt mọc lúp xúp, trong một khuôn viên nhỏ, cạnh một giếng nhỏ mang tên giếng Rừng, có hai cây lim cổ thụ mà các nhà khoa học xác định tuổi cũng ngang với những cây tùng Yên Tử: trên 700 năm.

Chính những cây lim đồng niên của chúng hơn 700 năm trước đã được tướng sĩ của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn chặt để làm trận địa cọc Bạch Đằng. Bạn có tin không? Chính những người già nhất của làng Rừng nói thế đấy.

Một chút tò mò nữa sẽ đưa chân bạn qua một cây cầu nhỏ vừa mới được khánh thành đầu năm nay để vào một làng đảo cũng thật là kỳ lạ: làng Hà Nam. Làng đảo này thật sự là một ốc đảo suốt mấy trăm năm qua, vì phải đi đò vào chứ không có đường, chính vì thế mà những phong tục tập quán và thiết chế văn hóa của làng vẫn còn gần như thuở… nhà Trần.

Nghề truyền thống của làng là đóng thuyền, và ở đây mỗi khi dân làng đào móng làm nhà thôi thì cũng có thể lấy lên được những bình, bát, nồi, lọ gốm cổ. Kỳ lạ là đường làng thấp hơn mực nước biển, chỗ thấp nhất phải đến gần 2m. Trải mấy trăm năm qua đê lấn biển, sau mỗi mùa mưa bão đê lại được gia cố, cao hơn, to hơn, nền đất trong làng lại càng thấp xuống mãi. Người đi ra tỉnh, lên Hà Nội, đi nhiều biết rộng thì gọi quê mình là “làng Hà Lan của VN”.

Từ non cao xuống biển sâu, cùng với 20 ngôi chùa làng vào loại cổ nhất miền Bắc, 80 hội làng, 10.000 di sản văn hóa phi vật thể, hàng chục di chỉ khảo cổ từ thời đại đồ đá mới qua thời Đông Sơn, rồi Hán thuộc đến Lý, Trần, Lê..., vùng Đông Bắc đang hứa hẹn một tiềm năng du lịch mới với sức hấp dẫn của những trang sử hào hùng chứ không chỉ có kỳ quan Hạ Long trên biển.

(*) Ngày cao điểm lên đến 30.000 người (con số của ngày 12 tháng giêng Ất Dậu)

THU HÀ
Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất