Hà Nội, TP.HCM, Hải Phòng, BR-VT chịu xếp dưới

QUANG THIỆN
QUANG THIỆN

TT - Hôm qua, lần đầu tiên ở VN, các chỉ số về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được các tổ chức có uy tín là Phòng Thương mại & công nghiệp VN (VCCI) và dự án Nâng cao năng lực cạnh tranh VN (do Hoa Kỳ tài trợ) công bố tại Hà Nội.

kiVtsilj.jpgPhóng to
TT - Hôm qua, lần đầu tiên ở VN, các chỉ số về năng lực cạnh tranh cấp tỉnh được các tổ chức có uy tín là Phòng Thương mại & công nghiệp VN (VCCI) và dự án Nâng cao năng lực cạnh tranh VN (do Hoa Kỳ tài trợ) công bố tại Hà Nội.

Ngoài những kết quả bất ngờ gây sửng sốt thì các chuyên gia cũng dự báo sẽ có rất nhiều tác động đa chiều đến tư duy, ý thức và tâm lý cũng như hành vi của các nhà đầu tư và nhất là bộ máy công quyền các cấp.

Sự thật bất ngờ

Kết quả bất ngờ nhất là trong 42 tỉnh thành được điều tra thì Hà Tây xếp cuối cùng chỉ với 38,81 điểm (thang điểm tối đa là 90) trong khi các điều kiện tự nhiên như giao thông, gần trung tâm, nhân lực, cơ sở hạ tầng... được đánh giá rất cao.

Các nhà phân tích cho rằng khi VN chuẩn bị gia nhập WTO thì hai đòi hỏi cấp bách là: tính minh bạch trong quản lý nhà nước với DN và sự thống nhất chủ trương, chính sách giữa trung ương và địa phương cần được cải thiện. Vì kết quả cho thấy hai chỉ số trên đều quá thấp.

Từ cuộc thu thập phân tích ý kiến DN phản ánh về Nhà nước lần này, chúng ta nên mở rộng hình thức phản biện ở nhiều ngành, nhiều cấp xung quanh vấn đề phát triển DN.

Không chỉ bất ngờ về Hà Tây mà trong tốp chỉ số thấp (tổng số có năm tốp: tốt, khá, trung bình, tương đối thấp và thấp) gồm bảy tỉnh thành thì toàn những địa phương có điều kiện tự nhiên thuận lợi như: Ninh Bình: 41,21 điểm, Nam Định: 45,97 điểm; thậm chí một địa phương mà gần đây nhiều người xem là hiện tượng bứt phá ngoạn mục trong hấp dẫn đầu tư là Hải Dương cũng chỉ đạt 45,79 điểm và xếp thứ tư từ dưới lên.

Đứng đầu bảng xếp hạng là Bình Dương với 76,82 điểm thì không gây bất ngờ, nhưng trong tốp bảy địa phương có chỉ số cao thì Vĩnh Long và Bến Tre xếp thứ ba và thứ tư.

Bảng kết quả năng lực cạnh tranh này đem đến một bất ngờ, đó là tất cả các địa phương đầu tàu trong nền kinh tế VN đều có chỉ số không xứng đáng với vị trí và điều kiện thuận lợi của mình. Thậm chí có tỉnh thành còn thấp đến xót xa. Đó là Hà Nội: 60,32 điểm, TP.HCM: 59,61 điểm, Hải Phòng: 59,40 điểm và Bà Rịa - Vũng Tàu: 59,15 điểm. Bốn “người anh” này đều nằm ở tốp khá và chịu xếp dưới cả những “em út” sinh ra ở những vùng khó khăn như Quảng Trị, Phú Yên, Bình Định...

Đo (tỉnh) “tôi” bằng cái gì?

Ông Dennis Zvinakis, giám đốc Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ tại VN (cơ quan tài trợ), khẳng định: chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) là chỉ số đánh giá và xếp hạng các tỉnh thành căn cứ vào chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân của địa phương đó. Năm 2005, PCI gồm 42 tỉnh thành có đóng góp 89% GDP của VN. Đây là kết quả hợp tác nghiên cứu của VCCI và dự án Nâng cao năng lực cạnh tranh VN (VNCI - dự án của cơ quan tài trợ).

Nghiên cứu này không đi tìm hiểu vai trò của những điều kiện truyền thống trong hoạt động kinh tế của địa phương như: cơ sở hạ tầng, điều kiện vốn, nhân công... mà tập trung phân tích tác động của những khác biệt trong môi trường pháp lý, chính sách cấp tỉnh đối với sự tăng trưởng và giàu mạnh của khu vực kinh tế tư nhân.

Chỉ số PCI được cấu thành bởi chín chỉ số khác, thường được các nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn ở VN nhấn mạnh. Đó là: chi phí gia nhập thị trường (thời gian doanh nghiệp - DN - cần để đăng ký kinh doanh, xin đất, nhận các loại giấy phép, thủ tục để bắt đầu hoạt động); đất đai và mặt bằng (đo tình trạng DN có giấy chứng nhận sử dụng đất hay không, đủ mặt bằng, giá đất trong tương quan với nhu cầu và quĩ đất địa phương); tính minh bạch và trách nhiệm (DN có thể tiếp cận kế hoạch của tỉnh và các văn bản cần thiết, tính sẵn có của các văn bản này, có thể dự đoán được qui định và chính sách mới, có được tham khảo ý kiến DN trước khi ban hành, mức độ phổ biến của trang web tỉnh); chi phí thời gian và việc thực hiện các qui định của Nhà nước (thời gian DN phải chấp hành các thủ tục hành chính và tạm ngừng kinh doanh để thanh tra, kiểm tra); chi phí không chính thức; thực hiện chính sách của trung ương (đo lường sự phối hợp giữa T.Ư và tỉnh, tỉnh chấp hành chính sách T.Ư ra sao); ưu đãi đối với DNNN (nhiều hay ít); tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh (đo tính sáng tạo, sáng suốt trong thực thi chính sách T.Ư cũng như chính sách riêng), và chỉ số cuối cùng: chính sách phát triển kinh tế tư nhân (chất lượng và tính hữu ích của các chính sách đó; cung cấp thông tin, tìm đối tác và đào tạo lao động... cho DN).

Tiến sĩ Nguyễn Văn Thắng, thành viên của dự án, cho biết: các chỉ số cấu thành trên được xây dựng từ hai nguồn dữ liệu “cứng” và “mềm”. Nguồn “cứng” là từ niên giám thống kê, từ phỏng vấn các “bên thứ ba” như Ngân hàng Nhà nước, các công ty bất động sản, các hiệp hội DN... Nguồn “mềm” là 16.200 DN tư nhân (đại diện cho các qui mô, loại hình, thâm niên và ngành nghề) tại 42 tỉnh thành được nhóm nghiên cứu gửi mẫu thư (14 trang) qua bưu điện. Hình thức này bảo đảm cho DN thấy khách quan, không e ngại về sự biết đến của chính quyền địa phương (trước những câu hỏi nhạy cảm); DN có thời gian suy nghĩ...

Kết quả đã có 13% số thư có trả lời. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh và tiến sĩ Edmund Malesky đều khẳng định: tỉ lệ điều tra xã hội học như trên là đạt mức tiêu chuẩn thế giới! Thu thập nhận định, kết quả các nhà nghiên cứu và hoạt động thực tiễn ở VN, nhóm nghiên cứu đã đưa ra ba chỉ tiêu có vai trò quan trọng nhất với DN tư nhân VN là: tỉ lệ các DN đang hoạt động/người; mức đầu tư trung dài hạn trung bình của DN/người và lợi nhuận trung bình của mỗi DN (theo đơn vị triệu đồng).

Bằng các phương pháp phân tích thống kê, nhóm nghiên cứu đã tính toán được sự ảnh hưởng của mỗi chỉ số cấu thành đối với ba chỉ tiêu trên (kết quả phép tính này gọi là trọng số). Kết quả đó đã cho thấy DN tư nhân đang cần nhất những gì (trong chín chỉ số cấu thành).

DN cần gì?

Bảng phân tích trọng số PCI cho thấy ba chỉ số có tính ảnh hưởng lớn nhất tới hoạt động của DN là: chi phí gia nhập thị trường: 17,1 điểm (trong tổng điểm các chỉ số là 100); tính năng động và tiên phong: 16,8; tính minh bạch và trách nhiệm: 16,1 điểm. Điều này lý giải vì sao Bình Dương đứng thứ nhất. Tiến sĩ Nguyễn Văn Thắng nói: “Khi đến Bình Dương, chúng tôi còn được DN kể về một cựu bí thư tỉnh ủy từng phát biểu: mỗi sáng dậy, chúng ta (quan chức của tỉnh) hãy tự hỏi mình sẽ làm gì hôm nay để bớt đi khó khăn cho DN...

Ngược lại rất nhiều người từng đánh giá Hải Dương là “nhà máy đè lên nhà máy”. Trên thực tế thì Hải Dương hiện cũng rất mạnh trong thu hút đầu tư nhưng chỉ là đầu tư nước ngoài. Nhưng nhìn vào bảng chỉ số cấu thành của Hải Dương thì tính năng động và chi phí gia nhập thị trường có điểm rất thấp, mà đây lại là những điểm cần cho DN tư nhân.

Ngược lại chi phí thời gian, chi phí không chính thức và tính thực hiện chính sách (trung ương) lại cao. Cộng với các lợi thế tự nhiên thì các DN nước ngoài rất cần những yếu tố trên. Tuy nhiên đánh giá sự hưng thịnh của nền kinh tế thì cơ bản phải là khu vực DN tư nhân.

Kết luận của nhóm nghiên cứu khuyến cáo: cần hết sức quan tâm đến mối quan hệ giữa tính minh bạch hiệu quả thu hút đầu tư. Tại Hải Dương, 90% số DN muốn có thông tin thì phải có “quan hệ” với quan chức địa phương. Có nghĩa rằng khi DN “quan hệ tốt” với quan chức thì địa bàn vẫn thu hút được đầu tư và đồng thời tính minh bạch càng giảm. Tính về sự bền vững thì điều này nguy hiểm.

Tương tự như vậy, Hà Nội và TP.HCM có số DN nhiều, lợi nhuận lớn nhưng chi phí không chính thức lại khá cao và tính minh bạch - trách nhiệm kém nên thứ hạng của hai trung tâm này không cao.

QUANG THIỆN
Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất