Bức tranh lịch sử của người mở cõi phương Nam

TÔ HOÀI
TÔ HOÀI

TTCN - Đọc Miệt vườn xa lắm (*), mỗi đoạn, mỗi chữ dường như tôi lẫn lộn những làng mạc và vườn tược ven sông trong trang sách và trong kỷ niệm của tôi, những câu hò không phân biệt được xưa kia hay chỉ mới đây.

MFb4OH6C.jpgPhóng to
TTCN - Đọc Miệt vườn xa lắm (*), mỗi đoạn, mỗi chữ dường như tôi lẫn lộn những làng mạc và vườn tược ven sông trong trang sách và trong kỷ niệm của tôi, những câu hò không phân biệt được xưa kia hay chỉ mới đây.

Nhớ khi còn niên thiếu ở quê, trong những cuộc họp bạn của Hội Truyền bá quốc ngữ - đáng lẽ tên là hội chống nạn mù chữ, nhưng bấy giờ Tây không cho phép có tên là “hội chống” hay “hội nạn” mà phải đổi tên hiền lành là Hội Truyền bá quốc ngữ. Ở những cuộc họp bạn, cắm trại, tôi thường gặp một người đứng tuổi trong nhóm tên là Trương Đình Tri; bao giờ ông Tri cũng được anh em lôi kéo, mời lên hát bài Hò Phú Ơn. Tôi nhớ mãi hình bóng câu hò như có tiếng gập ghềnh của đoàn người đi về phương Nam tìm đất sống, họ lang thang trên sông nước, mắt đăm đăm nhìn xa, cứ đi không biết đến bao giờ.

Khi kháng chiến tôi ở rừng Việt Bắc. Mùa đông tới, đốt lửa sưởi trong cơ quan Hội Văn nghệ giữa rừng, mỗi người góp một trò vui. Ông Hiếu ở văn phòng hội rún rẩy một mình một điệu nhảy mà ông nói ông đương nhớ cái năm ông ở Paris, bỗng nhiên tổng thư ký Nguyễn Tuân chống gậy song bước ra giọng Phú Yên cất lên câu hò Phú Ơn tha thiết gập ghềnh. Nhà văn mặc bộ quần áo bà ba đen ngoài khoác tấm áo trấn thủ, khắc khổ như một lão nông, như một nhà chài đương cùng đoàn người đi về phương Nam. Ô hay, một hình ảnh câu hò, ngẫu nhiên trở nên một đề tài ám ảnh không cố ý mà cũng không bình thường của nhà văn cứ hay vận vào mình. Cũng như tôi, khi đọc “cây truyện ngắn” Nguyễn Thành Long, những đoạn anh viết có hơi hướng quê hương ở chỗ nào cũng như thấy được những con người cả đời vai mang vác ra đi như câu hò Phú Ơn. Tôi nghe nói lại mấy hôm trước khi mất, ông Nguyễn đến chơi với mấy bạn Huế, đêm ấy ông đã cao hứng cất lên vài câu hò Phú Ơn - có phải câu hát cuối cùng vẫn ấp ủ trong đề tài một cái ký, cái truyện ngắn của ông, sự sáng tạo hồ như bao giờ cũng quanh co và ngẩn ngơ không ai cắt nghĩa được.

Cũng như mỗi khi nghe bài Lý ngựa ô tôi thật chối tai bởi tiếng nhạc ngựa xủng xoảng, tưng bừng “đưa nàng về dinh”. Không phải thế. Đây là tiếng gian truân của con người trong tơ vương và mong ước. Tiếng ngựa và chiếc kiệu vàng trong tưởng tượng mênh mông của người tìm quê, không phải tiếng vui mà là tiếng buồn hững hờ xa, rất xa.

Cũng như khi đọc truyện ngắn Rừng mắm của Bình Nguyên Lộc và những người đi tìm đất của Sơn Nam, của Đoàn Giỏi, thấp thoáng mà ám ảnh không dứt những hình thù sông nước và tiếng rừng của người ra đi, đi mãi.

Miệt vườn xa lắm của Dạ Ngân đến với tôi cùng một lúc với ý nghĩa và hình ảnh bức tranh lịch sử hàng trăm năm qua và cả bây giờ, người ta đi về phương Nam đất nước, tới vùng rừng ruộng mênh mông và ra tới biển Đông. Sự tích đi về phương Nam từ bấy tới đây rải rác và liên hồi, sinh sôi thành những xóm ấp cơ ngơi mới. Rồi ông nội cắm cái ghe, đưa cả nhà vào xóm Vịnh, quyết ở lại đấy lập nên vườn.

Đầu tiên ông trồng cây sao, trồng một hàng rào bờ bao bằng cây sao để nhớ lại Cao Lãnh, xứ lụt lội, ông phải “gan trời mới kéo cả vợ con và bầy em trai vượt qua sông Tiền, vượt qua cả sông Hậu rồi đi hết kênh xáng Xà No để cắm vườn vào một nơi chưa biết nghề vườn là gì...”.Câu chuyện gian nan của một nhà trôi dạt đi tìm đất được một cô bé tuổi mười hai hồn nhiên kể lại. Một nhà hằng ngày thường thấy ở miệt vườn ven sông giữa những biến cố thời cuộc từ thời Pháp đô hộ đến khi đánh Pháp, đến khi quân Mỹ tràn đến, bao nhiêu làng xóm bình yên bị giặc tập trung; chi khu quân sự Vị Thanh bên kia sông có pháo 105 bắn sang, có máy bay “đầm già” quấy đảo suốt đêm ngày.

Cho đến khi Đồng khởi 1960 làng làng trở thành làng kháng chiến. Cô bé nhớ lại. Bấy giờ ông nội, bà nội đã già quá. Ông vẫn là linh hồn của gia đình, từ khi ở Cao Lãnh xuống đây trồng cây sao đắp đất nên vườn thành cơ ngơi cũng một tay ông và con cháu. Ông đã yếu, nhưng tiếng ho của ông trong đêm khuya vẫn như tiếng ông nhắc nhở mọi người. Cô Tư tuổi đã xế phải gánh vác mọi việc trong nhà có hơn chục người toàn đàn bà con gái. Cô Tư cùng cô bé ra thành phố đem của vườn lên bán, nào cau buồng, vú sữa, sapôchê, cam quít... Cô bé đấy là con ông anh, người tù chính trị mà dù ở Phú Lợi hay Chí Hòa cô cũng chạy vạy để có tiền đi thăm nuôi anh trong khi chị dâu thì ở nhà vùi đầu vào việc vườn. Cô bé lớn lên cái gì cũng biết, cũng làm được với má, với cô Tư - cô Ràng.

Có một thầy giáo ở ngoài Cần Thơ được ban giáo dục tỉnh đưa về dạy lớp 3 - thầy giáo Tiền thật bắt mắt các cô gái trong xóm ấp và cả nhà, cả em bé cũng mến yêu thầy, cô luôn muốn thầy được làm người đàn ông của nhà mình. Nhưng mà thầy lại muốn đi bộ đội. Trong nhà có người đi cứ, đi tập kết, chị Niệm ở trên khu, anh Trường đương học ngoài chợ mà ông nội gọi về cho vô công tác trong khu. Nhà vẫn nhiều người nhưng toàn đàn bà con gái, lúc nào cũng có người đi kháng chiến, ăn làm xen kẽ trong không khí địch ta bốn phía. Thợ trèo hái cau, tiếng dừa rơi từ trên ngọn xuống trong ngày thu hoạch, tiếng cả nhà léo nhéo đi cắt kiến vàng về nuôi... Bức tranh miệt vườn và những con người vất vả đã được cô bé thơ ngây kể lại một cách cảm động. Bao nhiêu là khó khăn, dằn vặt, băn khoăn nhưng vẫn đượm một tiếng cười hồn nhiên, tinh quái.

Đêm đêm tiếng ôbuy tiếng đại bác bắn sang bên này sông cho đến tảng sáng, cũng là lúc trong nhà bắt đầu một ngày. Trong nhà một mình cô bé được ngủ với cô Ràng, khi mọi người lục tục thức thì cô cũng phải dậy đi sang nhà bà Chín mua cá về để làm cơm sớm. Rồi đông nhất là khi cả nhà đi chặt mía kéo mật hay những việc linh tinh khác, suốt đời. Cảnh cô Ràng đánh đuốc đi chơi hàng xóm, cảnh chị Hoài đạp máy khâu ban đêm rồ rồ, thầy Tiền, cây hoa tra vàng, cây mù u, cây trâm bầu... Ông nội ngồi ở đầu hè, ông nhìn lên cây sao rồi nhìn ra sông chỉ thấy màu nước mịt mù, giặc giã chen chúc như mắt lưới, bao giờ con và cháu ông mới trở về?

Miệt vườn xa lắm là bức tranh lịch sử trường kỳ của người đi vào phương Nam mở cõi.

(*) Miệt vườn xa lắm (NXB Kim Đồng), giải thưởng Hội Nhà văn VN 2004.

TÔ HOÀI
Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất