(KTSG Online) – Thị trường trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ dần phục hồi sau giai đoạn khó khăn, nhưng để khôi phục nhu cầu trái phiếu và niềm tin của nhà đầu tư thì việc định hình lại cấu trúc thị trường, kiểm soát tỷ lệ nợ xấu trái phiếu và hạn chế sự tham gia trực tiếp của các nhà đầu tư cá nhân cần được ưu tiên thực hiện trong thời gian tới.
Những tín hiệu phục hồi
Sau những động thái mang tính thanh lọc thị trường trái phiếu doanh nghiệp năm 2022, các cơ quan quản lý tiếp tục tiến hành tái cấu trúc, minh bạch hóa thị trường trong năm 2023 với mục tiêu khôi phục niềm tin của nhà đầu tư. Kết quả, tổng lượng trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) phát hành tiếp tục chậm trong quí 1-2023, nhưng các dấu hiệu phục hồi đã bắt đầu xuất hiện trong quí 2 – sau khi Nghị định số 08/2023, theo các chuyên gia của SSI Research. Cụ thể, Nghị định số 08/2023 đã tạo ra hành lang pháp lý để tổ chức phát hành TPDN có thể hoãn trái phiếu hiện tại lên đến 2 năm hoặc chuyển đổi trái phiếu thành tài sản khác. Theo ước tính của các chuyên gia thuộc SSI Research, số tiền gốc trái phiếu đã thành công thực hiện điều chỉnh hoãn nợ gốc/điều chỉnh lãi suất hoặc chuyển đổi trái phiếu lên tới 66.000 tỉ đồng. Trong số các trái phiếu được điều chỉnh hoãn nợ, các công ty trong Tập đoàn Nova, Sovico và Vietracimex là các doanh nghiệp tích cực nhất trong việc đàm phán gia hạn nợ với nhà đầu tư nửa đầu năm 2023. Một điểm đáng chú ý khác, theo các chuyên gia của SSI Research, là trái phiếu của các doanh nghiệp bất động sản chiếm tỷ trọng cao nhất trên thị trường sơ cấp với tỉ lệ 57%, nhưng chỉ tập trung vào một số tổ chức phát hành. Ngoài ra, các ngân hàng đẩy mạnh phát hành từ quí 2 và chiếm 31% tổng lượng phát hành nhờ giải quyết được các vướng mắc về báo cáo kiểm toán giải ngân nguồn vốn trái phiếu.
Rủi ro vẫn hiện hữu
Bên cạnh những tín hiệu tích cực thì khả năng trả nợ vay trái phiếu của doanh nghiệp là một vấn đề đáng lo ngại. Thống kê của FiinGroup cho thấy tổng giá trị TPDN riêng lẻ đáo hạn trong hai quí cuối năm 2023 ước ở mức 104.800 tỉ đồng, năm 2024 ở mức 288.100 tỉ đồng, năm 2025 ở mức 194.200 tỉ đồng. Với trái phiếu đáo hạn trong hai quí cuối năm 2023, giá trị trái phiếu đến hạn của các doanh nghiệp bất động sản là 37.100 tỉ đồng và tổ chức tín dụng (TCTD) là 24.000 tỉ đồng, các doanh nghiệp sản xuất là 1.300 tỉ đồng, các doanh nghiệp thương mại, dịch vụ là 22.400 đồng và lĩnh vực khác là 20.000 tỉ đồng. Đây là thách thức không nhỏ, không chỉ với các doanh nghiệp bất động sản mà còn với các ngành liên thông. Ngoài áp lực chi trả trái phiếu sắp tới hạn, các doanh nghiệp phát hành còn đối mặt với nguy cơ nợ xấu trái phiếu. FiinGroup cho biết có 118 tổ chức phát hành có một hoặc nhiều hơn lô trái phiếu lưu hành đã không thể đáp ứng nghĩa vụ nợ với tổng giá trị 165.000 tỉ đồng tính đến 30-6-2023, trong đó 109.000 tỉ đồng chậm trả đã đáo hạn từ 2022 - bằng 11,8 % giá trị TPDN đang lưu hành. Đáng lưu ý, có 79 tổ chức vi phạm nghĩa vụ nợ và 44 tổ chức có TPDN đến hạn nhưng đã được tái cơ cấu nợ, được thực hiện chủ yếu sau khi Nghị định 08/2023 về cho phép cơ cấu lại nợ TPDN đi vào hiệu lực. Với các tổ chức chậm trả nợ trái phiếu, có 55 tổ chức là doanh nghiệp trong ngành bất động sản với tổng giá trị TPDN chậm trả nợ ở mức 117.000 tỉ đồng, chiếm 71% với tổng giá trị trái phiếu của các doanh nghiệp chậm trả nợ trái phiếu. Ông Nguyễn Quang Thuân, cho biết để giải quyết dòng tiền chi trả cho trái phiếu đáo hạn thì các doanh sẽ tìm nguồn vốn từ phát hành TPDN mới, vay ngân hàng, phát hành cổ phiếu… để tái cơ cấu nợ và duy trì, phát triển sản xuất - kinh doanh trong điều kiện thông thường, bên cạnh kỳ vọng từ dòng tiền tạo ra từ sản xuất - kinh doanh. Nhưng với bối cảnh hiện tại, khả năng gọi vốn của doanh nghiệp khá khó khăn do một số nguyên nhân. Đó là những vi phạm liên tiếp đã làm niềm tin của các nhà đầu tư suy giảm đáng kể, nhà đầu tư cá nhân cũng đã trở nên e ngại hơn sau các vụ việc xảy ra trên thị trường. Bối cảnh này cũng tạo động lực để cơ quan quản lý ban hành Nghị định 65/2022 với những quy định chặt chẽ hơn với phát hành TPDN riêng lẻ trong tháng 9-2202, dẫn tới chỉ có đợt phát hành TPDN trị giá 210 tỉ đồng trong tháng 10-2022 - giảm 99% so với tháng trước. Sau diễn biến trên, cơ quan quản lý tiếp tục điều chỉnh chính sách với Nghị định 08/2023, đưa ra một số nội dung giúp các doanh nghiệp giãn hoãn hoặc cơ cấu lại nợ, nhưng thị trường vẫn cần thời gian để điều chỉnh và khôi phục niềm tin, nhất là với vấn đề nhà đầu tư chuyên nghiệp và xếp hạng tín nhiệm bắt buộc với một số trường hợp vẫn chưa được thực thi, theo ông Thuân. Bên cạnh yếu tố chính sách, doanh nghiệp cũng gặp khó khăn khi nguồn vốn tín dụng là không nhiều do phải ưu tiên cho các ngành sản xuất - kinh doanh và hạn mức tăng trưởng tín dụng thấp do phải kiểm soát lạm phát và rủi ro an toàn hệ thống các TCTD. Ngoài ra, thị trường chứng khoán không còn sôi động như giai đoạn trước, nên huy động vốn qua kênh này còn khó khăn. Còn việc bán hàng, phát mại tài sản để trả nợ của doanh nghiệp cũng không dễ dàng khi thị trường bất động đang trầm lắng, phục hồi chậm. “Chính vì lẽ đó, một bộ phận doanh nghiệp nhất là lĩnh vực bất động sản, có tiềm ẩn nguy cơ và đã xảy ra hiện tượng chậm trả trái phiếu trong thời gian vừa qua”, ông Thuân giải thích. Về đối tượng tham gia thị trường trái phiếu, một chuyên gia tài chính cho biết con số nhà đầu tư cá nhân tham gia thị trường đã giảm nhưng vẫn đang ở mức tương đối cao. Cụ thể, đối tượng này sở hữu khoảng 40,3% TPDN riêng lẻ phi ngân hàng tính đến hết quí 2-2023, tiếp đến là các tổ chức tín dụng với 30,7%, công ty chứng khoán với 7,2%, doanh nghiệp bảo hiểm với 3,8% và quỹ đầu tư với 1,3%. Thực tế, vấn đề nhà đầu tư cá nhân sở hữu nhiều TPDN riêng lẻ xảy ra từ thời gian trước năm 2022, khi các định chế tài chính trung gian, chủ yếu là thông qua một số công ty chứng khoán, sau khi mua trên thị trường sơ cấp, thực hiện phân phối trái phiếu phát hành riêng lẻ tới nhà đầu tư cá nhân được định nghĩa là chuyên nghiệp theo quy định cũ (có tài sản trên 2 tỷ đồng theo quy định của Nghị định 153 - PV). Nhưng sau những biến động của thị trường, một số vụ việc vi phạm quy định và một số tổ chức phát hành rơi vào tình hình khó khăn về tài chính không thực hiện được nghĩa vụ trả gốc và lãi. “Thực tế này cộng với vấn đề minh bạch thông tin còn hạn chế đã gây lên hiện tượng bán tháo trái phiếu trên thị trường vả cả việc giảm việc đầu tư vào chứng chỉ quỹ của các quỹ trái phiếu trên thị trường”, chuyên gia này cho biết.