(KTSG Online) – Trong khi năng lượng tái tạo, hydro xanh, than sinh khối hay điện hạt nhân đã xuất hiện dày đặc trong các chiến lược trung hòa carbon, thì công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon vẫn là khoảng trống lớn ở Việt Nam.
“Kho bạc” dưới đáy biển

Viên gạch đầu tiên ở Nghi Sơn
Năm 2023, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (nay là Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam) và JOGMEC ký biên bản ghi nhớ để nghiên cứu thành lập một trung tâm lưu trữ CO₂ ngoài khơi Thanh Hóa, tại lô 103 và 104. Vùng biển này cách bờ 100km, nằm gần cụm nguồn phát thải lớn: nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn, nhiệt điện, xi măng trong tam giác Thanh Hóa – Nghệ An – Hà Tĩnh.
Tiền đâu và luật nào cho CCS?
Chính phủ đã đưa CCS vào chiến lược khí hậu quốc gia. Theo Quyết định 266/QĐ-TTg ký tháng 2-2025, giai đoạn đến năm 2030 sẽ thí điểm CCS tại một số nhà máy nhiệt điện than; đến 2045, có 25.000 MW công suất than chuyển sang sinh khối hoặc amoniac có tích hợp CCS; và đến 2050, các nhà máy than còn lại phải áp dụng CCS. Quyết định số 896/QĐ-TTg (Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050) và Quyết định số 888/QĐ-TTg (Kế hoạch thực hiện cam kết tại COP26) đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu, ứng dụng công nghệ CCS cho các nhà máy điện và công nghiệp sử dụng nhiên liệu hóa thạch. Nhưng, khoảng cách giữa định hướng và thực tế còn xa. Việt Nam hiện chưa có quy định về quyền sở hữu, quản lý tầng đá lưu trữ dưới biển. Tiêu chuẩn kỹ thuật và an toàn cho quá trình bơm CO₂. tất nhiên cũng chưa có luôn; rồi các quy định liên quan trách nhiệm pháp lý khi rò rỉ; cơ chế tài chính, tín chỉ carbon gắn với dịch vụ lưu trữ. Rõ ràng, chưa có những nền tảng này, CCS khó đi từ nghiên cứu sang triển khai, vẫn mải chỉ là các tham luận khoa học trong các hội thảo, diễn đàn. Bài toán vốn cũng nan giải. Chi phí thu giữ và lưu trữ CO₂ trên thế giới dao động 50 - 100 đô la/tấn. Một dự án CCS quy mô trung bình cần đầu tư ban đầu hàng tỉ đô la. Ai trả tiền để chôn CO₂? Doanh nghiệp phát thải, ngân sách hay quỹ quốc tế? Đương nhiên là các chuyên gia vẫn nhìn ra nước ngoài xem cách họ làm. Đó là bán tín chỉ carbon tạo nguồn thu bù chi phí, Nhà nước hỗ trợ miễn thuế, trợ giá hoặc đầu tư chung hạ tầng lưu trữ ban đầu và cuối cùng là cơ chế chia sẻ rủi ro pháp lý và kỹ thuật giữa Nhà nước - doanh nghiệp.Cho thuê “kho” lưu trữ cabron, tại sao không?
Nhưng nếu muốn trung hòa carbon vào năm 2050 như Việt Nam đã cam kết thì giảm phát thải nhanh nhất ở các lĩnh vực khó giảm phát thải như xi măng, nhiệt điện, thép thì lưu trữ carbon dưới lòng biển là cơ hội và cũng là giải pháp nhanh nhất. Nên nhớ, ba lĩnh vực công nghiệp nói trên hiện đang chiếm tới 40% tổng phát thải của cả nước. Hơn nữa, một khi thực hiện được giải pháp lưu trữ cabron thì vẫn giữ được đà tăng trưởng của công nghiệp trong nước, lại đạt mục tiêu Net Zero. Cuối cùng là mở ra dịch vụ môi trường mới: xuất khẩu dung tích lưu trữ CO₂, hay nói nôm na là cho thuê “kho” lưu trữ CO₂ cho các nước. Lưu trữ carbon là công nghệ cao, chi phí đắt đỏ, cần vốn đầu tư ban đầu lớn và hiện nay chỉ có một số quốc gia có trình độ công nghệ cao thực hiện như Mỹ, một số quốc gia châu Âu. Trong khi đó, Việt Nam gần như chỉ mới nghiên cứu, đánh giá, tất nhiên là thiếu kinh nghiệm vận hành, giám sát an toàn dài hạn, đặc biệt là chưa có khung pháp lý cho CSS. Dự án Nghi Sơn có thể là phép thử đầu tiên nhưng buộc phải thử nếu muốn trung hòa carbon vào năm 2050.