Không đủ an toàn vốn, ngân hàng không được phép chia lợi nhuận tiền mặt. Ảnh: LÊ VŨ
Thông tư số 14/2025/TT-NHNN do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành, quy định về tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Theo đó, các ngân hàng thương (NHTM) mại không có công ty con và chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải duy trì các tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ tối thiểu. Cụ thể, tỷ lệ vốn lõi cấp 1 là 4,5%, vốn cấp 1 là 6% và an toàn vốn (CAR) là 8%. Đối với NHTM có công ty con, yêu cầu bao gồm cả tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ và hợp nhất với các mức tương tự.
Khi tính tỷ lệ an toàn vốn hợp nhất, ngân hàng không hợp nhất công ty con là doanh nghiệp bảo hiểm nhưng vẫn phải tính đầy đủ tài sản có rủi ro tín dụng, vốn yêu cầu cho rủi ro hoạt động và rủi ro thị trường, áp dụng phương pháp tiêu chuẩn để tính tài sản có rủi ro tín dụng.
Cùng với đó, Thông tư quy định ba công thức tính tỷ lệ an toàn vốn như sau:
Tỷ lệ
Cách tính
Vốn lõi cấp 1
Vốn lõi cấp 1 / [RWA + 12,5 × (KOR + KMR)]
Vốn cấp 1
Vốn cấp 1 / [RWA + 12,5 × (KOR + KMR)]
An toàn vốn (CAR)
Vốn tự có / [RWA + 12,5 × (KOR + KMR)]
Trong đó, RWA là tổng tài sản có rủi ro tín dụng, KOR là vốn yêu cầu cho rủi ro hoạt động và KMR là vốn yêu cầu cho rủi ro thị trường.
Ngoài tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, ngân hàng phải tuân thủ tỷ lệ bộ đệm bảo toàn vốn theo lộ trình 4 năm, từ 0,625% lên 2,5%. Từ năm thứ tư, ngân hàng cần đảm bảo vốn lõi cấp 1 tối thiểu 7%, vốn cấp 1 là 8,5% và CAR là 10,5% mới được chia cổ tức tiền mặt.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có quyền quyết định áp dụng tỷ lệ bộ đệm vốn phản chu kỳ (Countercyclical Capital Buffer - CCyB) trong khoảng từ 0% đến 2,5% tùy theo điều kiện kinh tế và chu kỳ tín dụng.
Khi tính vốn, tất cả khoản mục bằng ngoại tệ hoặc vàng được quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá và giá vàng cuối ngày báo cáo, theo quy định về hệ thống tài khoản kế toán và báo cáo tài chính của Ngân hàng Nhà nước.
Thông tư này có hiệu lực từ ngày 15-9.
Tổng dư nợ tín dụng tại TPHCM ước đạt 5,5 triệu tỉ đồng sau 6 tháng đầu năm, tăng 6,5% so với cuối năm ngoái. Ngành ngân hàng đồng thời triển khai nhiều giải pháp, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn thuận lợi hơn.
Môi trường kinh doanh của ngân hàng đang khó hơn khi tăng trưởng bán lẻ chậm lại, chi phí vốn chịu áp lực, cạnh tranh huy động gay gắt và khách hàng ngày càng nhạy cảm hơn với lãi suất, phí và giá trị sản phẩm. Vì vậy, tăng trưởng bền vững không chỉ là một thông điệp tích cực, mà là năng lực lựa chọn đúng: tăng ở đâu, với khách hàng nào, bằng sản phẩm gì và trong mức rủi ro ra sao.
Khép lại năm tháng đầu năm 2026 với những biến động địa chính trị phức tạp và chính sách tiền tệ không còn trong trạng thái quá thuận lợi, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lớn trong giai đoạn nửa cuối năm.
Tổng dư nợ tín dụng tại TPHCM ước đạt 5,5 triệu tỉ đồng sau 6 tháng đầu năm, tăng 6,5% so với cuối năm ngoái. Ngành ngân hàng đồng thời triển khai nhiều giải pháp, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn thuận lợi hơn.
Môi trường kinh doanh của ngân hàng đang khó hơn khi tăng trưởng bán lẻ chậm lại, chi phí vốn chịu áp lực, cạnh tranh huy động gay gắt và khách hàng ngày càng nhạy cảm hơn với lãi suất, phí và giá trị sản phẩm. Vì vậy, tăng trưởng bền vững không chỉ là một thông điệp tích cực, mà là năng lực lựa chọn đúng: tăng ở đâu, với khách hàng nào, bằng sản phẩm gì và trong mức rủi ro ra sao.
Khép lại năm tháng đầu năm 2026 với những biến động địa chính trị phức tạp và chính sách tiền tệ không còn trong trạng thái quá thuận lợi, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt lớn trong giai đoạn nửa cuối năm.