(KTSG Online) - Bước vào Ngày Thế giới Đất ngập nước năm 2026 (2-2) với chủ đề tôn vinh các giá trị tri thức truyền thống, giới quan sát kinh tế đang chứng kiến một sự thay đổi bước ngoặt trong tư duy quản trị. Đất ngập nước không còn được nhìn nhận như những vùng sình lầy cần được khai phá, mà đang trở thành một loại “vốn tự nhiên” chiến lược, nơi ẩn chứa lời giải cho bài toán tăng trưởng xanh và các cam kết khí hậu khắt khe mà các nền kinh tế trên thế giới, bao gồm Việt Nam, đang nỗ lực thực thi.
- U Minh Thượng trở thành khu Ramsar thứ 8 của Việt Nam
- Du lịch xanh: Khi hạnh phúc của cộng đồng và môi trường phải là bài toán sinh tồn

Khi “bể chứa carbon” trở thành tài sản tài chính xanh
Vấn đề cốt lõi đầu tiên cần được phân tích chính là tiềm năng tài chính từ khả năng lưu trữ carbon của đất ngập nước – một thị trường vốn đang dần hình thành rõ nét. Theo các dữ liệu từ website chính thức Liên hợp quốc về Ngày Quốc tế Đất ngập nước, dù chỉ chiếm khoảng 6% bề mặt trái đất, nhưng đất ngập nước là nơi cư ngụ của 40% các loài sinh vật. Đặc biệt, các vùng đất than bùn có khả năng lưu trữ carbon cao gấp đôi tổng lượng carbon của tất cả các loại rừng trên thế giới cộng lại. Điều này biến đất ngập nước thành những “nhà máy” hấp thụ phát thải tự nhiên hiệu quả nhất hiện nay. Riêng trong lộ trình tiến tới Net Zero vào năm 2050 của Việt Nam, việc phục hồi các vùng đất than bùn và rừng ngập mặn tại Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ là nhiệm vụ môi trường, mà là một chiến lược đầu tư vào "tín chỉ carbon xanh" có giá trị thương mại cao. Bên cạnh đó, chiến lược toàn cầu của tổ chức Wetlands International giai đoạn 2026-2035 đã đặt ra mục tiêu đầy tham vọng: huy động 6 tỉ euro cho các dự án phục hồi đất ngập nước, hướng tới bảo tồn 4 triệu héc-ta và phục hồi 1 triệu héc-ta diện tích vào năm 2035. Đây là một chỉ dấu cho thấy sự dịch chuyển mạnh mẽ của dòng vốn đầu tư quốc tế vào các giải pháp dựa vào thiên nhiên. Đối với một quốc gia có hơn 12 triệu héc-ta đất ngập nước như Việt Nam, cơ hội tham gia vào chuỗi giá trị tài chính này là vô cùng lớn. Tuy nhiên, thách thức hiện nay nằm ở việc thiếu vắng một khung pháp lý về định giá vốn tự nhiên. Nếu giá trị của một héc-ta rừng ngập mặn hay đầm lầy không được hạch toán đầy đủ vào giá trị tài sản quốc gia hoặc dự án đầu tư, các hệ sinh thái này sẽ tiếp tục bị đánh đổi cho những lợi ích ngắn hạn. Việc thiết lập cơ chế trao đổi tín chỉ carbon từ đất ngập nước không chỉ giúp huy động nguồn lực xã hội cho bảo tồn, mà còn tạo ra nguồn thu nhập mới cho cộng đồng địa phương, biến cư dân bản địa trở thành những “cổ đông” trực tiếp của hệ sinh thái thay vì chỉ là những người khai thác tài nguyên nhỏ lẻ. Sức hấp dẫn của tài chính xanh cũng gắn liền với vai trò “hạ tầng ưu tiên” của đất ngập nước trong việc giảm thiểu rủi ro thiên tai. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc bảo vệ các rạn san hô và rừng ngập mặn giúp tiết kiệm hàng tỉ đô la chi phí xây dựng đê điều và khắc phục hậu quả lũ lụt ven biển. Tại các quốc gia đang phát triển, mô hình đầu tư vào hạ tầng xanh này đang chứng minh được hiệu quả vượt trội so với các công trình bê tông hóa cứng nhắc vốn thường bị xói mòn và xuống cấp nhanh chóng dưới tác động của nước biển dâng. Đầu tư vào đất ngập nước, do đó, cần được nhìn nhận như một khoản bảo hiểm dài hạn cho nền kinh tế, giúp giảm bớt gánh nặng ngân sách trong việc xử lý các thảm họa môi trường.Kinh tế di sản và sự trở lại của tri thức truyền thống
Vấn đề nổi bật thứ hai mang tính thực tiễn cao đối với Việt Nam là sự chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ khai thác tận diệt sang phát triển kinh tế dựa trên di sản và tri thức bản địa. Câu chuyện gần đây của Ninh Bình là một ví dụ điển hình cho sự chuyển dịch này. Từ một địa phương vốn dựa nhiều vào khai thác tài nguyên để sản xuất xi măng và công nghiệp nặng, tỉnh Ninh Bình đã thực hiện một bước ngoặt chiến lược khi đặt Quần thể danh thắng Tràng An làm trọng tâm phát triển. Thành công của Tràng An đã minh chứng rằng, một vùng đất ngập nước nhạy cảm có thể tạo ra doanh thu du lịch bền vững và hàng ngàn việc làm chất lượng cao nếu được quản trị dựa trên sự tôn trọng thiên nhiên và lịch sử.
Các khu "Ramsar" thế giới tại Việt Nam
Việt Nam là quốc gia Đông Nam Á đầu tiên gia nhập Công ước Ramsar (năm 1989). Tính đến nay, Việt Nam đã có 9 khu đất ngập nước được công nhận trên thế giới:-
Vườn quốc gia Xuân Thủy (Nam Định - nay là Ninh Bình): Khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam và Đông Nam Á (công nhận năm 1989). Đây là vùng cửa sông Hồng với hệ sinh thái rừng ngập mặn đặc trưng, điểm dừng chân quan trọng của các loài chim di cư.
-
Vườn quốc gia Cát Tiên (Đồng Nai): (Công nhận năm 2005) Với hệ thống đất ngập nước Bàu Sấu, đây là nơi bảo tồn quan trọng cho các loài bò sát và chim nước quý hiếm.
-
Vườn quốc gia Ba Bể (Bắc Kạn - nay là Thái Nguyên): (Công nhận năm 2011) Hồ nước ngọt tự nhiên trên núi đá vôi độc đáo, đóng vai trò điều tiết nguồn nước cho khu vực miền núi phía Bắc.
-
Vườn quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp): (Công nhận năm 2012) "Thánh địa" của loài Sếu đầu đỏ, biểu tượng của đất ngập nước Đồng Tháp Mười.
-
Vườn quốc gia Mũi Cà Mau (Cà Mau): (Công nhận năm 2013) Điểm cực Nam của Tổ quốc với hệ sinh thái rừng ngập mặn tiến ra biển, đóng vai trò quan trọng trong việc bồi đắp lãnh thổ và chắn sóng.
-
Vườn quốc gia Côn Đảo (Bà Rịa – Vũng Tàu - nay là TPHCM): (Công nhận năm 2013) Khu Ramsar biển đảo đầu tiên của Việt Nam, nơi bảo tồn rùa biển và các rạn san hô nguyên sơ.
-
Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen (Long An - nay là Tây Ninh): (Công nhận năm 2015) Vùng lõi của vùng trũng Đồng Tháp Mười, lưu giữ những nét đặc trưng của hệ sinh thái đất ngập nước nội địa.
-
Vườn quốc gia U Minh Thượng (Kiên Giang - nay là An Giang): (Công nhận năm 2015) Hệ sinh thái đất than bùn trên đất phèn quý hiếm, một "bể chứa carbon" tự nhiên khổng lồ.
-
Khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước Vân Long (Ninh Bình): (Công nhận năm 2017) Vùng đất ngập nước nội địa lớn nhất vùng đồng bằng Bắc Bộ, nơi cư ngụ của quần thể Voọc mông trắng lớn nhất Việt Nam.