(KTSG) - Thương lái vẫn là một phần không thể thiếu trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Thương lái cần được xem là đối tác đồng hành với người sản xuất, với doanh nghiệp. Thương lái cần tự tin với vai trò đóng góp chủ động và tích cực hơn vào chuỗi giá trị ngành hàng nông sản.
- Nông dân, thương lái thiệt hại nặng vì thiếu dầu trong mùa gặt
- Thương lái phản ánh gặp khó khăn khi vào Kiên Giang mua lúa

Thử tưởng tượng nếu doanh nghiệp thu mua trực tiếp từ nông dân mà không cần hệ thống thương lái thì sẽ như thế nào. Khi ấy, doanh nghiệp cần phải có đủ nguồn lực tài chính, hệ thống kho bãi, nhà máy, phương tiện vận chuyển, nhân lực bốc vác, vận chuyển...Thử tưởng tượng nếu doanh nghiệp thu mua trực tiếp từ nông dân mà không cần hệ thống thương lái thì sẽ như thế nào. Khi ấy, doanh nghiệp cần phải có đủ nguồn lực tài chính, hệ thống kho bãi, nhà máy, phương tiện vận chuyển, nhân lực bốc vác, vận chuyển... Những doanh nghiệp có đầy đủ nguồn lực như vậy không nhiều, nên không thể bao phủ tiêu thụ trên toàn diện tích canh tác, sản xuất khắp các địa phương sau mỗi mùa vụ. Tình trạng nông sản phơi đồng, trái treo trên cây, tôm cá nằm dưới ao bè, sẽ khó tránh khỏi. Đó là hệ quả tất yếu của một nền nông nghiệp vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ, tự phát. Nền nông nghiệp manh mún, nhỏ lẻ, tự phát, dẫn đến hệ quả là nông sản từng hộ không đủ lớn, không đồng đều, thời điểm thu hoạch khác nhau, dễ gây trùng lắp, chồng lấn, cạnh tranh lẫn nhau. Như vậy sẽ làm phát sinh chi phí vận chuyển, chi phí phân loại theo chủng loại, kích cỡ, chất lượng. Mỗi tầng nấc trung gian như hiện nay chính là thực hiện vai trò sắp xếp, phân phối nông sản theo các nhu cầu đa dạng, phù hợp, tương ứng với năng lực, sự quan tâm của các doanh nghiệp lớn, của doanh nghiệp nhỏ và vừa, của nhà vựa, của thương lái. Nền kinh tế phân chia như vậy đã tồn tại hàng trăm năm, mang đặc trưng của nền sản xuất quy mô nhỏ. Hãy đến các nhà vựa nông sản, để thấy thực tế nền kinh tế quy mô nhỏ đang vận hành như thế nào. Như vậy, trong ngắn hạn, điều cần quan tâm là thúc đẩy sự vận hành linh hoạt, hài hòa của hệ sinh thái: doanh nghiệp - thương lái - hợp tác xã, nông dân, theo mô hình nền kinh tế chia sẻ: chia sẻ thị trường, chia sẻ nguồn vốn, chia sẻ hạ tầng logistics…, từ lợi nhuận, lợi ích, và đến cả rủi ro. Vậy đến khi nào chuỗi giá trị ngành hàng nông sản sẽ giảm thiểu tầng nấc trung gian? Khi và chỉ khi, nền sản xuất mở rộng qua quy mô lớn hơn bằng cách tích tụ hoặc tập trung đất đai. Khi và chỉ khi, tinh thần hợp tác giữa những người sản xuất, tính liên kết giữa người sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp thu mua trở nên bền chặt, dài hạn, chứ không phải theo từng mùa vụ. Khi và chỉ khi, kinh tế trang trại, kinh tế tập thể phổ biến hơn, là chủ đạo trong nông nghiệp thay cho kinh tế hộ gia đình. Thời gian qua, nhiều doanh nghiệp đã chuyển từ cách thức mua bán thương vụ sang hợp tác, liên kết, trực tiếp đầu tư, từ vật tư đầu vào, đến thu mua đầu ra theo yêu cầu chất lượng với các hợp tác xã, là những tín hiệu vui. Tinh thần hợp tác, liên kết, ngoài dựa trên sự hài hoà lợi ích, còn phải tạo dựng và giữ gìn niềm tin trong dài hạn. Đó chính là văn hoá của người sản xuất và văn hoá của thương lái, doanh nghiệp. Cần tạo ra nhiều không gian để các thành phần trong hệ sinh thái ngành hàng ngồi lại với nhau, chia sẻ với nhau, có niềm tin với nhau. Trong thành phần hệ sinh thái, cũng như trong chuỗi ngành hàng trước mắt không thể thiếu thương lái, trừ những doanh nghiệp đủ tiềm lực xây dựng được cả vùng nguyên liệu cho mình. Thương lái cần được xem là đối tác đồng hành với người sản xuất, với doanh nghiệp. Thương lái cần tự tin với vai trò đóng góp chủ động và tích cực hơn vào chuỗi giá trị ngành hàng nông sản. Thương lái cần được tập hợp vào các nhóm, các câu lạc bộ trên cơ sở tự nguyện, để cùng trao đổi kinh nghiệm, cùng tiếp cận các nội dung tập huấn, hướng dẫn về kỹ thuật trong bảo quản, vận chuyển, chế biến, bảo đảm chất lượng, an toàn vệ sinh thực phẩm. Thông qua các nhóm, câu lạc bộ, mối liên kết giữa thương lái với doanh nghiệp được mở rộng, trên cơ sở ký kết hợp đồng về nguồn gốc, xuất xứ, địa bàn, đầu mối thu gom theo vùng, khu vực… Dần dà, các thương lái có điều kiện về vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, có thể thành lập các công ty theo chuỗi sản xuất từ nguyên liệu đến chế biến, tiêu thụ nội địa và xuất khẩu. Và chính cộng đồng thương lái có trách nhiệm, hình thành và mở rộng từ các nhóm, câu lạc bộ, sẽ đồng thuận nói không với những hành vi thiếu lành mạnh: mua bán nông sản kém chất lượng hay trục lợi, cấu kết, gây chia rẽ, tác động tiêu cực đến giá cả,… “Sáu năm được mùa thì sáu năm mất mùa, cứ mười hai năm thì có một lần đói lớn. Phàm giá gạo mua hai bán mười thì có hại cho nhà nông, mua chín bán mười thì có hại cho người buôn. Người buôn bị hại thì của cải không có, nông dân bị hại thì cỏ dại không trừ. Lên không quá mua tám bán mười, xuống không dưới mua ba bán mười thì nghề nông nghề buôn đều được lợi, giá gạo ổn định vật dụng đầy đủ, chợ không thiếu hàng”. Ngẫm nghĩ từ tích cũ chuyện xưa, để thấy rằng, lợi nhuận, lợi ích của nhà nông, của người buôn luôn có mối liên hệ mật thiết. Mùa vụ lúc trúng lúc thất. Thương vụ lúc được lúc thua. “Có đắt hàng tôi mới trôi hàng bà”. Thoát khỏi tư duy mùa vụ, thương vụ, vượt qua những mâu thuẫn, đối kháng, toan tính thiệt hơn, người sản xuất, thương lái, doanh nghiệp mới cùng sẵn lòng san sẻ rủi ro, hài hòa lợi ích.