Thứ 6, ngày 14 tháng 8 năm 2020

Những thầy giáo cầm bút vào chiến trường - Kỳ 3: Trường học giữa đạn bom

28/04/2020 09:32 GMT+7

TTO - Vượt Trường Sơn, đặt chân đến Đắk Lắk, nhóm giáo viên lần lượt được đưa về Ban tuyên huấn Tỉnh ủy Đắk Lắk đóng ở H9 (huyện Krông Bông). Các thầy cô giáo bắt đầu 'tuyển sinh', lập trường dạy chữ với bao gian nguy nhưng cũng đầy hào hùng.

Những thầy giáo cầm bút vào chiến trường - Kỳ 3: Trường học giữa đạn bom - Ảnh 1.

Tập thể giáo viên Trường sơ cấp sư phạm tại H9 (Krông Bông) năm 1973 - Ảnh TRUNG TÂN chụp lại

Có những đợt đói, mọi người phải tận dụng hạt bắp, củ mì bị máy bay rải chất độc để đưa xuống suối rửa sạch, nhưng ăn vào nôn thốc, nôn tháo hết.

Thầy NGUYỄN TRÚC

Đêm học bài, ngày ở ngoài nương rẫy

Vì hoàn cảnh chiến tranh nên trường phải thường xuyên "nay đây mai đó". Thầy trò vừa phát cây rừng dựng trường vừa làm rẫy mưu sinh. Học sinh là những cán bộ Huyện ủy, Tỉnh ủy tại các căn cứ, có người đã biết chữ, nhưng phần lớn "một chữ bẻ đôi" không biết...

Tiếp tôi tại quán cà phê gia đình ở thị trấn Phước An (huyện Krông Pắk, Đắk Lắk), ông Bùi Văn Đồng (nguyên giám đốc Trung tâm Bồi dưỡng chính trị huyện Krông Pắk) đã gần 70 tuổi vẫn giữ giọng sang sảng của người chiến sĩ thời chiến.

Ông Đồng kể trường bổ túc văn hóa, sư phạm đầu tiên đều dựng tại khu cách mạng H9, để đào tạo những thiếu niên cảm tình cách mạng đã "nhảy núi" (từ vùng địch chiếm vô căn cứ) làm nòng cốt sau này. Ông Đồng là một trong những học viên được cô Nguyễn Thị Phương đưa về để đào tạo.

"Hồi cuối những năm 1960, bom đạn rất ác liệt, tôi "nhảy núi" vào với các anh, các chú. Chưa đủ tuổi cầm súng và đã biết chữ, tôi được các thầy cô đưa về trường sư phạm bồi dưỡng để làm giáo viên sau này", ông Đồng nhớ lại.

Nhưng trường cứ dựng ít lâu lại bị đối phương phát hiện, bắn phá nên phải di chuyển. Thời kỳ đầu, thầy trò phải dắt díu vượt núi, băng sông giữa các vùng căn cứ để lập trường.

"Từ H9, men theo đường mòn trên dãy Trường Sơn để đi về Ea H’Leo, Krông Pa. Cứ tìm được điểm dừng chân thì điều đầu tiên là phải phát rẫy trồng bắp, trồng mì để có cái ăn, rồi mới tính chuyện làm trường, học chữ", ông Đồng kể.

Kể những ngày tháng gian nguy, thầy Hà Ngọc Đào xúc động nhớ lại bao đồng đội đã ngã xuống. Sau nhiều lần phải di chuyển, trường bổ túc văn hóa được tổ chức lại tại vùng rừng núi Cư Jú, Cheo Reo (H2, nay thuộc thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai).

Trường mở lại, thầy và trò đều phấn khởi, nhưng hàng loạt khó khăn ngay phía trước. Lúc đó, trường rất ít giáo viên, nhưng cũng đủ để đảm bảo việc dạy cả tiếng Kinh lẫn tiếng Ê Đê.

Trong nhật ký, thầy Đào ghi lại: "Tôi là hiệu trưởng, vừa làm quản lý vừa là giáo viên dạy lớp 3. Việc lo hậu cần cho trường (ăn, ở, học hành…) cho độ 50 người là nội dung được đặt ra bàn và giải quyết trước hết.

Phương án tối ưu nhất là trường phải đặt nơi an toàn, nằm thật sâu trong rừng núi. Thế nhưng có lần trường vẫn bị càn quét, 4 học viên hi sinh. Trường phải chuyển vào hang đá Cư Jú, lưng chừng núi.

Đêm đêm lửa củi sáng rực nhưng không xua nổi cái lạnh của hang đá. Nhiều học viên áo quần, tấm đắp không đủ ấm, co ro bị cái rét giày vò cắt da cắt thịt, sốt rét xanh xao".

Đêm học bài trong cái lạnh đã khổ, ban ngày tất cả học viên, giáo viên đều phải ra nương rẫy tỉa bắp, trồng mì để tích trữ đồ ăn. Thầy Nguyễn Trúc kể nếu bom đạn để yên cho thầy trò tỉa bắp, trồng sắn, đêm đêm học bài thì cuộc sống thật mỹ mãn.

"Nhưng có những mùa, khi bắp đã ra hạt, sắn sắp cho củ thì máy bay thả chất độc hóa học xuống. Bao nhiêu mồ hôi và máu để có rẫy sắn, nương ngô coi như công cốc", thầy Trúc kể.

Những thầy giáo cầm bút vào chiến trường - Kỳ 3: Trường học giữa đạn bom - Ảnh 3.

Thầy Nguyễn Trúc chỉ các vết thương trong trận chống càn năm 1971 - Ảnh: TRUNG TÂN

Vừa dạy học, vừa chống càn

Đầu những năm 1970, Tiểu ban giáo dục mở lại trường sư phạm ở căn cứ H9 để đào tạo những người là cán bộ ở các đơn vị nhiều độ tuổi, trình độ chênh lệch. Tháng 1-1970, trường thành lập ở Buôn Chàm (nay là trụ sở xã Cư Đrăm, Krông Bông) với 6 giáo viên, 13 học sinh và tiến hành xây dựng trường từ hai bàn tay trắng.

Ông Bùi Văn Đồng (lúc này là học viên tại trường sư phạm) kể tháng 2-1970, thầy trò tổ chức lễ khai giảng đầm ấm dưới tán rừng le ở Buôn Chàm.

Nhật ký ông Đồng ghi: "Lúc này, 13 học sinh quần áo gọn gàng, ngồi gọn trong 4 chiếc bàn, được thầy Nguyễn Phúc Tuần (hiệu trưởng) trao những cuốn vở mới tinh. Thầy trò chúng tôi xúc động nghẹn ngào trước việc thành lập trường sư phạm đầu tiên của tỉnh Đắk Lắk", ông Đồng nhớ lại.

Trong hồi ức của mình, ông Đồng nhớ mãi trận càn của trung đoàn 45, sư đoàn 23 quân lực Việt Nam cộng hòa (đóng tại Buôn Ma Thuột) vào trường sư phạm trước Tết Tân Hợi (1971). Theo lệnh của Ban tuyên huấn, thầy trò lui vào ẩn trong núi Yang Ri trú tránh và cử một số người ở lại chặn đối phương, bảo vệ trường.

"Sau 2 ngày đổ bộ, càn quét trên núi, đối phương bất thình lình tấn công vào con suối gần trường với số lượng rất đông, nguy hiểm cho thầy cô trong trường. Chúng tôi liều mình vòng ra sau bắn AK để giải vây cho thầy cô trong trường. Mọi người thoát nạn, nhưng có ít thịt nai sấy khô chuẩn bị ăn tết thì mất sạch", ông Đồng kể.

Đến giờ, thầy Nguyễn Trúc vẫn nhớ mãi trận đánh kể trên của mình. Lúc đó, thầy Trúc là hiệu trưởng trường sư phạm, yêu cầu giáo viên và học viên lên núi tránh, còn mình và 3 anh em khác bám lại bảo vệ trường.

Thấy đối phương đổ tràn lên "Đồi điện ảnh" (nơi có một đơn vị chiếu phim lưu động đóng nên gọi như vậy - PV) ở Buôn Chàm gần trường, thầy Trúc kê sẵn một khẩu súng trung liên RBD cũ với khoảng 100 viên đạn.

Trong cuốn nhật ký đã úa màu thời gian của thầy Nguyễn Trúc vẫn ghi: "Chồi cây lồ ô rậm quá, đến khi nghe tiếng bước chân của đối phương đến gần chúng tôi vẫn chỉ thấy bóng chúng thấp thoáng. Tôi tuôn hết 100 viên đạn rồi đứng dậy hất khẩu súng hết đạn lên vai rồi hô xung phong, tức là rút lui vì hết đạn rồi. Thấy áo có dính máu, biết mình bị thương…".

Gần 50 năm sau, người thầy giáo mặc áo lính năm xưa vẫn nhớ như in từng chi tiết. Xắn tay áo lên cao, thầy Trúc chỉ những vết thương từ trận đánh và nói ông có số "đạn bom tránh mình".

"Khi đã an toàn, xem xét kỹ lưỡng tôi mới phát hiện ba vết thương bay hết phần mềm, gần chạm xương chỉ bằng một viên đạn. May mắn thay viên đạn xợt từ tay trái qua ngực rồi sang tay phải nhưng tôi chỉ bị thương nhẹ. Sau đó cấp trên có khen thưởng chúng tôi về trận đánh...

Nửa tháng sau, một chỉ huy đơn vị quân đội đến hiện trường kiểm tra, nói: Khen là khen gan cóc tía của các cậu, chứ bố trận kiểu này không chết là may! Trận địa phục kích nằm ở phía thấp, lồ lộ ra ngay hướng bắn của đối phương, nhưng anh em không ai bị sao cả", thầy Trúc cười kể.

Thầy Hà Ngọc Đào kể người đặt viên gạch đầu tiên cho giáo dục Đắk Lắk là thầy Nguyễn Kim Khánh (Nguyễn Đức Siêu, hi sinh năm 1967) được cử vào Nam năm 1960. Thầy Khánh vừa làm nhiệm vụ cán bộ tuyên huấn, vừa bảo vệ lực lượng, tự túc sản xuất lương thực.

Từ năm 1965, có thêm đoàn cán bộ giáo dục 9 người được cử vào để xây dựng bộ khung, thành lập trường sư phạm và bổ túc văn hóa. Đến trước năm 1975, có thêm 3 đoàn được cử vào với hàng chục cán bộ, giáo viên để xây dựng phong trào học tập ngay trong đạn lửa chiến tranh.

"Ngoài ra, tại các trường sư phạm, bổ túc văn hóa đã đào tạo thêm hàng chục giáo viên để bám lớp, bám trường ở những khu căn cứ, những vùng tạm chiếm, tranh chấp. Những ngôi trường ở các khu căn cứ phải đào hầm để học vì luôn bị càn quét, đánh bom bất thình lình, đồng thời phải di chuyển liên tục", thầy Đào cho biết.

_______________________________________

Nhiều thầy giáo đã hi sinh trên đường đi B hoặc ngay trên chiến trường. Nhưng dù người thầy ngã xuống, trường vẫn được dựng lên...

Kỳ tới: Thầy ngã xuống, trường vẫn mơ

Những thầy giáo cầm bút vào chiến trường - Kỳ 2: Nhật ký vượt Trường Sơn Những thầy giáo cầm bút vào chiến trường - Kỳ 2: Nhật ký vượt Trường Sơn

TTO - Sau 3 tháng huấn luyện, đoàn cán bộ, nhà giáo chia thành các chi vượt Trường Sơn vào Nam, gia nhập chiến trường.

TRUNG TÂN
Bình luận Xem thêm
Bình luận (0)
Xem thêm bình luận