Vui lòng nhập Email
Email Không đúng định dạng
Vui lòng nhập Họ & Tên.
Nhân dịp năm mới, giáo sư Trần Văn Thọ đã gửi đến Báo Tuổi Trẻ bài viết về xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho giai đoạn phát triển mới của đất nước. Xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc.
Đón năm Bính Ngọ 2026 cũng là lúc Việt Nam bước qua giai đoạn thu nhập trung bình cao (thu nhập bình quân đầu người năm 2025 khoảng 5.000 USD). Từ mốc này đến mục tiêu thành quốc gia tiên tiến thu nhập cao còn 20 năm nữa. Trong 20 năm đó, Việt Nam kỳ vọng sẽ có một giai đoạn tăng trưởng hai con số để chắc chắn đạt mục tiêu và có thể đạt mục tiêu sớm hơn.
Để tăng trưởng tốc độ cao và bền vững cần tăng năng suất lao động ở tốc độ tương ứng. Để tăng năng suất, cần đẩy mạnh cải cách thể chế, nhất là hoàn thiện kinh tế thị trường để các nguồn lực như vốn, đất đai dịch chuyển đến nhưng lãnh vực có năng suất cao, khuyến khích đổi mới sáng tạo, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lên các ngành có giá trị gia tăng cao, nhưng quan trọng nhất và liên quan mật thiết đến các yếu tố vừa kể là cung cấp ngày càng nhiều nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đặc biệt chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố then chốt giúp dịch chuyển cơ cấu công nghiệp và cơ cấu doanh nghiệp, hai lãnh vực đang là dư địa lớn để tăng năng suất.
Về cơ cấu công nghiệp có hai vấn đề. Một là công nghiệp có năng suất cao nhất so với nông nghiệp và dịch vụ nhưng mức độ công nghiệp hóa của Việt Nam còn rất thấp. Trong giai đoạn dân số vàng, tỉ trọng của công nghiệp trong GDP của các nước đã phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc lên tới trên 30% nhưng Việt Nam sắp hết giai đoạn dân số vàng mà tỉ trọng đó chỉ mới hơn 20%. Như vậy trong thời gian tới cần đẩy mạnh công nghiệp hóa hơn nữa.
Hai là, công nghiệp hóa của Việt Nam cho đến nay chủ yếu là gia công, lắp ráp nên năng suất thấp. Trong thời gian tới cần thâm sâu công nghiệp hóa, sản xuất các sản phẩm đầu vào, sản phẩm trung gian hiện đang nhập khẩu nhiều từ Trung Quốc và Hàn Quốc. Công nghiệp hóa theo hai hướng đó cần nhiều lao động lành nghề.
Hiện nay (2024), trong tổng lao động có việc làm (gần 52 triệu), có gần 14 triệu trong khu vực nông, lâm thủy sản, chủ yếu là nông nghiệp; và chỉ có 12 triệu lao động trong công nghiệp chế biến, chế tạo. Như vậy trươc mắt vừa nâng cao chất lượng lao động trong công nghiệp vừa đào tạo lao động nông nghiệp để có kỹ năng cần thiết mới chuyển sang làm việc trong khu vực công nghiệp.
Về cơ cấu doanh nghiệp, khu vực kinh tế tư nhân (chỉ kể công nghiệp và dịch vụ) chiếm gần 40% tổng sản phẩm trong nước (GDP) nhưng phần lớn là các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa, ngoài ra còn có khoảng 5 triệu hộ kinh doanh cá thể làm thành khu vực phi chính thức trong nền kinh tế.
Trong thời gian tới, với Nghị quyết 68 của Bộ Chính trị, doanh nghiệp tư nhân sẽ phải đổi mới và phát triển, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ sẽ phải lớn hơn, đại bộ phận của khu vực phi chính thức sẽ chính thức hóa. Theo đó, phần lớn lao động đang làm việc trong khu vực kinh tế tư nhân phải được đào tạo hoặc đào tạo lại theo hướng tăng kỹ năng, tăng chất lượng để đáp ứng nhu cầu thay đổi cơ cấu doanh nghiệp.
Từ thực trạng của Việt Nam như đã phân tích và nhìn từ sự thay đổi nhanh trong công nghệ, kỹ thuật, có thể chia nguồn nhân lực chất lượng cao thành 3 trường hợp.
Thứ nhất là nguồn lao động cơ bản, chất lượng cao nhưng số lượng rất đông. Việt Nam sẽ cần một lực lượng lớn về lao động có kỹ năng, một đội ngũ kỹ thuật viên chuyên nghiệp, những người thợ chuyên môn, có khả năng lãnh hội tri thức khoa học trong sản xuất, trong lưu thông, trong kế toán... Trình độ giáo dục có thể chỉ là trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng hay Cấp III chuyên nghiệp nhưng được đào tạo bài bản, chuyên sâu, có tinh thần yêu nghề, tinh thần trách nhiệm, hiểu văn hóa ứng xử.
Họ là những người thợ chuyên ngành, được đào tạo chính quy, vừa lãnh hội được lý thuyết, vừa điều khiển được máy móc thông thạo và trong số đó sẽ có người dần dần có khả năng quản lý cấp trung ở nhà máy.
Trong thời đại công nghệ số và toàn cầu hóa, họ cần được bồi dưỡng thêm khả năng tiếng Anh và năng lực tối thiểu về công nghệ số. Công nghiệp hóa giai đoạn tới phải cần những lao động chất lượng cao theo nội dung đó. Đào tạo hàng loạt lao động chất lượng cao này mới giải quyết các vấn đề về tình trạng lao động ta thấy ở trên.
Kinh nghiệm Nhật Bản giới thiệu dưới đây sẽ cho thấy nguồn nhân lực này đóng vai trò như thế nào trong quá trình đưa đất nước mặt trời mọc trở thành cường quốc công nghiệp.
Thứ hai là nguồn nhân lực chất lượng cao ở cấp quản lý, lãnh đạo như chuyên viên cấp cao, kỹ sư, quản trị doanh nghiệp… Phần lớn họ là những người tốt nghiệp đại học hoặc trên đại học, có năng lực chuyên môn cao, có thể xử lý và thích ứng với thay đổi nhanh trong công nghệ kỹ thuật số, trí tuệ nhân tạo (AI), khoa học dữ liệu...
Họ thường phải hội đủ các khả năng STEM (science, technology, engineering, mathematics). Lý tưởng hơn nữa là ngoài STEM còn thêm khả năng cảm nhận văn hóa, lịch sử, nghệ thuật (gọi chung là Arts) - một tố chất cần cho người ở vị trí lãnh đạo, nghĩa là STEM trở thành STEAM.
Thứ ba là loại nhân tài tổng hợp, ngày càng quan trọng đối với doanh nghiệp cạnh tranh trên quy mô toàn cầu. Đây là nhân tài có khả năng đổi mới sáng tạo trong tổ chức (organizational innovation), có năng lực thích ứng nhanh với thay đổi của thị trường và công nghệ.
Nhân tài tổng hợp này có nền tảng văn hóa cao, có năng lực ngoại ngữ và công nghệ kỹ thuật số và tri thức chuyên môn cao trong lãnh vực họat động của doanh nghiệp. Nhân tài tổng hợp này là một phần của tài sản vô hình (intangible asset) của doanh nghiệp và ngày càng được xem là yếu tố quyết định thành công trong cạnh tranh. Nhân tài tổng hợp có những điểm chung với STEAM nhưng ở tầm cao hơn và thêm vào đó là chuyên môn sâu trong lãnh vực hoạt động của doanh nghiệp.
Trong ba loại nguồn nhân lực chất lượng cao đề cập ở trên, loại thứ ba do doanh nghiệp đầu tư nhưng ở đây cần đề cập để doanh nghiệp Việt Nam quan tâm. Loại thứ hai chủ yếu do các trường đại học phụ trách. Nhà nước cần tích cực phân bổ nguồn lực đến các đại học công nhằm tăng cường cơ sở đào tạo nhân tài về STEM và STEAM. Ngoài ra nhà nước cũng nên hỗ trợ một phần các kinh phí đào tạo các lãnh vực đó tại các đại học tư.
Vấn đề quan trọng và cấp bách là đào tạo nguồn nhân lực thuộc trường hợp thứ nhất. Nhu cầu rất lớn nhưng cung cấp còn quá ít, đầu tư chưa đúng mức, và nội dung đào tạo chưa cải tiến theo nhu cầu mới. Ngoài ra tâm lý chung là người Việt Nam vốn trọng bằng cấp nên ít người quan tâm tới các cấp bậc cao đẳng hay trung cấp.
Trước khi bàn về chính sách liên quan, ta thử xem kinh nghiệm Nhật Bản về sự quan trọng và nỗ lực đào tạo nguồn nhân lực này. Vào giữa thập niên 1950, Nhật Bản đạt mức phát triển trung bình cao, tương đương trình độ phát triển của Việt Nam hiện nay. Từ năm 1955 đến 1973 kinh tế Nhật tăng trưởng hai con số và vào giữa thập niên 1960 Nhật trở thành cường quốc công nghiệp, thu nhập bình quân đầu người tăng lên hàng các nước tiên tiến Âu Mỹ.
Trong giai đoạn phát triển hai con số, ngoài chế độ học đường phổ thông ngày càng mở rộng và tăng cường, Nhật còn có các bậc học, các khóa học hay hình thức đại học mới để đào tạo nguồn nhân lực đáp ứng hiệu quả đối với nhu cầu công nghiệp hóa.
Thứ nhất, Cấp III được đào tạo theo hai hệ. Một là hệ phổ thông như bậc học thông thường ở các nước, hai là hệ chuyên khoa, học ngay các lĩnh vực chuyên môn để cung cấp ngay nguồn nhân lực công nghệ, kỹ thuật trung cấp. Dĩ nhiên trong hệ chuyên khoa, học sinh cũng học các môn cơ bản về văn hóa, chính trị, xã hội như học sinh hệ phổ thông nhưng ít hơn.
Thứ hai, một hình thái giáo dục để đào tạo bậc kỹ sư trung cấp là cao đẳng chuyên môn (tiếng Nhật gọi là Kosen). Kosen có mục đích để đào tạo nhanh các kỹ sư thực hành trong các ngành công nghiệp và công nghệ. Học sinh tốt nghiệp cấp II có thể thi vào các trường Kosen để có ngay kiến thức chuyên môn về cơ khí, điện tử, về thương thuyền, hàng hải, nông nghiệp... Khi ra trường họ dễ tìm việc hơn những học sinh tốt nghiệp chương trình phổ thông.
Kosen thông thường học 5 năm, tức là nhiều hơn 2 năm so với Cấp III chuyên khoa. Trong chương trình học Kosen, học sinh học lý thuyết, thực hành, cách giải quyết vấn đề ở nhà máy, học kỹ năng truyền đạt, giao tiếp, định kỳ tham quan nhà máy và thực tập ở doanh nghiệp. Ở mỗi tỉnh đều có một hoặc hai trường Kosen.
Thứ ba, hình thức đại học đoản kỳ rất phổ biến trong giai đoạn tăng trưởng hai con số. Đại học đoản kỳ gồm 2 năm, một năm học văn hóa và một năm học chuyên môn (như kế toán, thư ký, soạn văn thư, khán hộ, gia chánh, pháp luật, du lịch, thương mại, nghệ thuật, ngoại ngữ, giao tiếp quốc tế...). Hình thức này tương đương bậc giáo dục trung cấp ở Việt Nam nhưng ở đây tên gọi là đại học (đoản kỳ) và chú trọng dạy văn hóa.
Loại hình đại học đoản kỳ này ra đời vào cuối thập niên 1940 và phổ biến mạnh trong giai đoạn tăng trưởng hai con số.
Như vậy, trong quá trình chuyển từ nước có thu nhập trung bình cao lên cường quốc công nghiệp tiên tiến, Nhật Bản đã chú trọng đào tạo nguồn nhân lực chuyên môn từ Cấp III song song với cao đẳng kỹ thuật (kosen) và đại học đoản kỳ.
Vài con số cho thấy sự quan trọng của các loại hình đào tạo này: Năm 1970 có tới 42% học sinh chọn học chuyên khoa huấn nghiệp trong tổng số học sinh học Cấp III (trung học phổ thông). Số người theo học Kosen từ 1962 đến 1973 chỉ hơn 10 năm tăng tới gần 15 lần.
Về đại học đoản kỳ, lúc mới ra đời (1950), số sinh viên theo học khoảng 15 ngàn, chỉ 5 năm sau, con số tăng tới 5 lần, và đến cuối giai đoạn tăng trưởng hai con số (năm 1973), tăng thêm 4 lần nữa. Năm 1973, số sinh viên học Kosen, đại học đoản kỳ và đại học 4 năm lần lượt là gần 5 vạn, 31 vạn và 1,55 triệu.
Trở lại vấn đề của Việt Nam, theo tôi, cần cải tổ toàn diện hệ giáo dục trung cấp, cao đẳng, và thêm một hệ đào tạo đặc biệt Cấp III. Cụ thể có thể tóm tắt như sau: thứ nhất, trung cấp và cao đẳng hợp nhất thành hệ đại học đoản kỳ 2 năm. Không gọi trung cấp, cũng không gọi là cao đẳng mà là đại học đoản kỳ để cải thiện hình ảnh đối với người học.
Thứ hai, cải tổ chương trình học theo hướng hiện đại, đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp trong thời đại công nghiệp 4.0 (song song với chuyên môn, chú trọng dạy công nghệ thông tin và tiếng Anh). Trong 2 năm, gần 1 năm học văn hóa và hơn 1 năm học chuyên môn.
Thứ ba, lập một số trường Cấp III chuyên nghiệp trong đó học sinh vừa học các môn thông thường như trung học phổ thông (nhưng ít hơn) và dành thời gian học ngay vào chuyên môn. Hệ cấp III chuyên nghiệp này có thể kéo dài thành 4 năm, thay vì 3 năm như trung học phổ thông.
Thứ tư, trong chương trình học ở đại học đoản kỳ hay Cấp III chuyên nghiệp, nên có mục thực tập ngắn hạn ở các doanh nghiệp. Ngoài ra, nhà nước và doanh nghiệp nên hợp tác lập ra một số cơ sở đào tạo nguồn nhân lực theo chương trình nhiều thực hành hơn và sau khi tốt nghiệp có ngay việc làm ở doanh nghiệp.
Đào tạo nguồn nhân lực theo hướng trên sẽ đẩy mạnh công nghiệp hóa và phát triển dịch vụ theo hướng chuyển dịch cơ cấu lên cao, tăng năng suất toàn xã hội, để Việt Nam đạt mục tiêu phát triển trong kỷ nguyên mới.
Số liệu năm 2020 của lực lượng lao động Việt Nam Nguồn: JICA - Tổ chức Hợp tác quốc tế Nhật Bản - Đồ họa: TUẤN ANH
Tin cùng chuyên mục
Vui lòng nhập Tên hiển thị
Vui lòng nhập Email
Email Không đúng định dạng
Vui lòng nhập Email
Email Không đúng định dạng
Mật khẩu không đúng.
Thông tin đăng nhập không đúng.
Tài khoản bị khóa, vui lòng liên hệ quản trị viên.
Có lỗi phát sinh. Vui lòng thử lại sau.
Nhập mã xác nhận
Đóng lạiVui lòng nhập thông tin và ý kiến của bạn
XThêm chuyên mục, tăng trải nghiệm với Tuổi Trẻ Sao
Từ ngày 1-1-2023, Tuổi Trẻ Online giới thiệu Tuổi Trẻ Sao - phiên bản đặc biệt dành riêng cho các thành viên với nhiều chuyên mục và trải nghiệm thú vị, bao gồm: Tư vấn pháp luật, Hỏi chuyện sức khỏe; Xem nhật báo sắc nét trên mạng (E-paper), Tuổi Trẻ Live (trực tiếp các sự kiện thời sự nóng bỏng, hấp dẫn).
Tuổi Trẻ Sao được thiết kế thông thoáng với tất cả các trang, chuyên mục và video đều không có quảng cáo hiển thị, không làm ngắt quãng sự tập trung của bạn đọc.
Bằng cách đóng góp Sao, thành viên Tuổi Trẻ Sao có thể tham gia các hoạt động và tương tác trên nền tảng Tuổi Trẻ Online như tặng Sao cho tác giả và các bài viết yêu thích, đổi quà lưu niệm trong chương trình, đăng ký quảng cáo, mua sắm trực tuyến.
Báo Tuổi Trẻ phát triển Tuổi Trẻ Sao nhằm từng bước nâng cao chất lượng nội dung, tăng khả năng kết nối, tương tác và thực hiện các nội dung mới theo nhu cầu của số đông công chúng.
Chúng tôi hy vọng Tuổi Trẻ Sao sẽ góp phần chăm sóc, phục vụ và mang lại những trải nghiệm mới mẻ, tích cực hơn cho cộng đồng độc giả của Tuổi Trẻ Online.
TTO
Tuổi Trẻ Sao
Thông tin tài khoản ngày
Tài khoản được sử dụng đến ngày | Bạn đang có 0 trong tài khoản
1 sao = 1000đ. Mua thêm sao để tham gia hoạt động tương tác trên Tuổi Trẻ như: Đổi quà lưu niệm, Tặng sao cho tác giả, Shopping
Tổng số tiền thanh toán: 0đ
Thanh toán
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận