Thành Đoàn - Một thời hoa lửa (kỳ 2):
Phóng to |
|
SVHS biểu tình chống quân sự học đường trên đường phố Sài Gòn năm 1971 - Ảnh tư liệu |
Giữa lằn ranh sống chết
Trước khi bị bắt đêm 24-1-1975, đoàn viên Nguyễn Văn Nhã, SV Trường ĐH Khoa học (nay là Trường ĐH Khoa học tự nhiên TP.HCM), đã từng nhiều lần xuống đường tranh đấu.
Tại nha cảnh sát đô thành, anh Nhã một mực kêu oan: “Tôi chỉ là SV, thấy bất công xã hội nên đấu tranh”. Thiếu úy Nhơn bắt anh đặt tay lên bàn rồi quật ma trắc. Ngón tay, bàn tay rồi cả cánh tay sưng lên. Đau, nhưng anh nghĩ: đây là cuộc đối đầu không chỉ của ý thức hệ, mà còn là khí tiết của những người cộng sản trẻ tuổi. Khí tiết ấy đã giúp anh đứng lên.
Qua nhiều lần bị tra tấn không khai, anh Nhã bị đưa đến gặp Cù Lũ Nhí - “cao thủ” tra tấn “nổi danh” của cảnh sát quốc gia. Cù Lũ Nhí phủ đầu tâm lý ngay: “Gặp tôi hoặc là khai hoặc là đi luôn!”. Rồi y mở hộc bàn lấy ra mấy cây kim, lạnh lùng cắm từng cây vào ngón tay anh Nhã và gõ thước.
Đến cây thứ năm, anh té xuống bất tỉnh. Hôm sau, Cù Lũ Nhí dùng cây đánh vào xương bánh chè, anh bật té xuống đất. Thấy “dễ chịu” hơn đâm kim, anh chủ động đưa chân lãnh đòn. Cù Lũ Nhí kéo quần anh, gí đầu thuốc vào chỗ kín, anh nghiến răng trấn áp cơn đau thể xác. Đến lần gí thứ tư, anh ngoẹo đầu, sùi bọt mép.
“Biết bao người đã hi sinh, tiếc gì thân mình, quyết không khai”, anh nghĩ vậy khi đang mơ hồ giữa lằn ranh sống chết. Về sau, anh Nhã được bạn tù tôn vinh “anh hùng nha đô thành”, với hàm ý là “người tù gan lì số 1”.
Phóng to |
|
Anh Nguyễn Văn Nhã (trái) - "người tù gan lì số 1" ngày ấy và người bạn chiến đấu một thời Hạ Đình Nguyên (nguyên phó chủ tịch Tổng hội SV Sài Gòn) - Ảnh: T.Bình |
Người cuối cùng tra tấn anh Giàu chính là “sát thủ” Cù Lũ Nhí. Sau khi giở hết các ngón đòn thâm độc nhưng không quật ngã được khí tiết người cộng sản trong anh, một buổi tối sau khi uống rượu say khướt, Cù Lũ Nhí bất ngờ xuống nơi giam tù chính trị bắt tay anh Giàu và xin chào thua!
Đối với nữ, cuộc chiến giữ khí tiết còn khốc liệt hơn nhiều. Trong hồi ký của bà Lê Mỹ Lệ (Năm Trang, nguyên phó bí thư Thành đoàn Sài Gòn - Gia Định, nay đã mất) về giai đoạn bị địch bắt đầu năm 1968, có đoạn kể chuyện Năm Trang bị tra tấn liên tục suốt bốn ngày bằng đủ “món” như trói ngoặt tay treo lên, đóng kim gút vào ngón tay, tra điện vào chỗ kín... cho đến khi bị băng huyết xối xả phải đưa vào Bệnh viện Từ Dũ. Các bác sĩ nói với cảnh sát: “Cô này nếu tiếp tục đánh sẽ khó cứu”. Chớp thời cơ, Năm Trang dùng tàn lực để trốn.
|
“Nhất lý, nhì lì, tam suy, tứ tử”
Chị Đặng Thị Hiền (Tư Khoa) cho biết cán bộ Thành đoàn ngày ấy có bí quyết “nhất lý, nhì lì, tam suy, tứ tử”. Chuyện anh Ba Vạn, Năm Nghị giả bệnh tật, suy kiệt để tìm cơ hội vượt ngục gọi là “tam suy”. Bản thân chị cũng từng bị bắt vào năm 1973 khi hai cơ sở bị lộ. Lúc đối chất, chị Hiền không nhận tội vì không có chứng cứ, sau đó lén động viên hai chị nọ phản cung (nhất lý). Lúc về trại Hậu Nghĩa, chị bị đánh dữ dội nhưng nhất quyết không khai (nhì lì), rồi giả vờ như sắp chết tới nơi để được đưa vào Bệnh viện Bình Dân. Tại bệnh viện, chị nhờ móc nối với các nhà báo nước ngoài đến quay phim “phụ nữ vô tội bị tra tấn đẫm máu”, mẹ chị khóc lóc thảm thiết trước ống kính “con nhỏ đi học về, tui biểu đi chợ mua bông về cúng ông bà”. Đâu ai biết trước đó một ngày khi mẹ vô thăm, chị nhờ mẹ hôm sau trở lại diễn xuất theo “kịch bản” đó, ai ngờ “bà già diễn quá đạt, cứ như thật”. Về sau, bị chuyển sang nhà lao Tân Hiệp, chị tiếp tục áp dụng “cẩm nang ở tù” cho đến khi được thả. |
Tháng 9-1965, tử tù Lê Hồng Tư bị đưa trở lại Côn Đảo. Ba anh Tư, Việt và Vịnh bàn kế hoạch vượt ngục. Đến giờ, họ tựa người vào tường, đứng trên vai nhau, gỡ ngói chui lên, xé áo cột thành dây kéo người lên sau. Vượt qua bốn tường rào kẽm gai, họ mới thoát được ra bên ngoài, đến gần sáng tới được chân núi. Địch truy đuổi ráo riết nên họ lạc nhau.
Chiều xuống, thấy êm, anh Tư ra suối bắt cua ăn sống hai con, để dành hai con cho đồng đội đang trốn đâu đó trong rừng. Sáng hôm sau, anh Tư lọ mọ tìm đường ra thì bị địch phục kích bắt giữ, vài ngày sau hai bạn tù cùng trốn cũng không thoát khỏi “địa ngục trần gian”. Kẻ thù đánh đập tàn nhẫn nên anh Việt suy kiệt nhanh, sau đó hi sinh.
Chuẩn bị đợt 2 Mậu Thân 1968, anh Phan Chánh Tâm (Ba Vạn, nguyên bí thư Thành đoàn Sài Gòn - Gia Định) bị bắt. Địch bắn anh Tâm xuyên từ má phải qua má trái rồi “hốt” lên xe. Tương kế tựu kế, anh giả vờ chết ngất để được đưa đến Bệnh viện Chợ Rẫy.
Bác sĩ chỉ định: gãy xương hàm, bể răng, đứt lưỡi. Thấy cô y tá nhìn mình thương xót, anh Tâm nháy mắt ra dấu nhưng tiếp tục nhắm mắt dưỡng sức chờ cơ hội. Đến khoảng 4g sáng, tranh thủ lúc tên cảnh sát ngủ gật, anh ra dấu với y tá, cố ngồi dậy rút kim truyền nước biển, vòng cửa sau thoát ra khỏi phòng, chạy lòng vòng một hồi cũng đến bờ tường để trốn được. Khuôn mặt anh sưng vù, vương đầy máu đến nỗi người chị ruột cũng không nhận ra.
Anh Phạm Chánh Trực (Năm Nghị), nguyên bí thư Thành đoàn Sài Gòn - Gia Định, được đồng đội một thời gọi là “chuyên gia vượt ngục”. Lần thứ nhất là năm 1961. Ở nha cảnh sát, anh Năm Nghị tự làm cho vết thương thêm nặng hơn để được vào Bệnh viện Chợ Quán (nay là Bệnh viện Bệnh nhiệt đới) và lập nhóm vượt ngục.
Họ thường xung phong hứng nước vào ca đêm, leo qua cửa sắt mục, lợi dụng tiếng nước nhỏ tí tách để đục tường. Đến giờ G (ngày 31-12-1961), họ chui qua lỗ đục, leo rào kẽm gai, hòa vào dòng người đi chợ.
Cuối năm 1969, anh Năm Nghị lại bị bắt. Trong tù, anh tìm cách vận động cho khỏe đôi chân, hễ có tiếng động là giả vờ đau đớn. Trên đường đi nhà lao Tân Hiệp, do không bị còng tay, đến cầu Điện Biên Phủ anh đạp bung cửa. “Theo kế hoạch lẽ ra tôi tiếp tục lao xuống rạch rồi đến nhà một người thân gần đó, nhưng xui xẻo bị đám lính gác cầu hốt lại” - anh nhớ lại.
Ở nhà lao Tân Hiệp, sau khi bị đánh đập “cho chừa”, anh Năm Nghị và các bạn tù lại bàn kế hoạch vượt ngục. Thấy có công trình đang xây dựng gần đó, họ quyết định đào địa đạo để “độn thổ”. Lúc đi ăn cơm, họ nhặt một thanh sắt để đào ximăng và lon sữa để cào đất.
Tất cả quần áo được huy động để đựng đất: tối lôi lên, đào suốt đêm, xong lại lấp xuống. Đêm đó, trời bất ngờ đổ mưa, “địa đạo” ngập nước, họ phải chuyển sang “phương án 2” là bẻ cửa. Họ rạch lõm cửa gỗ đủ một người chui, làm từ khoảng 8g tối đến gần sáng mới xong.
Ra khỏi “nhà”, bốn người cởi quần áo khéo léo vượt rào kẽm gai, sau đó công kênh nhau vượt tường có hai tầng kẽm gai gắn đầy pháo sáng. Ra khỏi trại giam, anh Năm Nghị cải trang, thay đổi địa điểm, trốn tránh liên tục, ròng rã từ đêm 20-6-1970 đến đầu năm 1972 mới về đến căn cứ.
Anh Năm Nghị, cũng là một trong những “thầy giáo chiến khu” của Thành đoàn Sài Gòn - Gia Định, nhớ lại: “Tất cả kinh nghiệm đối phó với kẻ thù đều được đưa vào chương trình huấn luyện cán bộ, vì đấu tranh trên chiến trường không vũ khí gần như là điều tất nhiên đối với những người trẻ dám dấn thân đi làm cách mạng”. “Giáo trình đấu tranh” viết bằng máu đó đã thôi thúc họ đứng lên trong mọi tình huống với niềm tin mãnh liệt vào ngày chiến thắng...
Trong gian nan, hiểm nguy là lúc họ gắn bó với nhau nhất. Giữa bắt bớ, tù đày là những tình yêu đơm hoa kết trái.
Đó là những tình yêu được giấu trong lòng vì sợ người mình yêu phải chờ đợi quá lâu. Đó là những lời thề của tình yêu sắt son, tin vào ngày mai tươi sáng. Và đó là những đám cưới tổ chức trong lao tù, trong căn hầm với phòng tân hôn dã chiến…



Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận