31/03/2006 06:01 GMT+7

Trong thế giới HIV/AIDS (kỳ cuối): Ngôi nhà mang tên khát vọng

HỒNG VÂN
HỒNG VÂN

TT - “Tôi sinh ra trong một gia đình thuộc hàng danh giá. Bố mẹ là những người trí thức, có công việc làm mà nhiều người phải mơ ước. Tôi được chăm chút việc học hành, có một tình yêu đẹp từ thuở cắp sách đến trường...”. Vậy mà...

w4ESEKe3.jpgPhóng to

Cùng tập văn nghệ - Ảnh: Hồng Vân

TT - “Tôi sinh ra trong một gia đình thuộc hàng danh giá. Bố mẹ là những người trí thức, có công việc làm mà nhiều người phải mơ ước. Tôi được chăm chút việc học hành, có một tình yêu đẹp từ thuở cắp sách đến trường...”. Vậy mà...

Sức mạnh tình ruột ràĐiểm tựaTôi đi chăm sóc bệnh nhân

19 tuổi, C. đã là con nghiện. Cai nhiều cách, nhiều kiểu cũng không qua được, C. khăn gói ra tận miền Bắc khép mình vào kỷ luật sắt để đoạn tuyệt với ma túy. Vừa cai C. vừa luyện thi đại học rồi thành sinh viên Đại học Luật Hà Nội.

C. thú thật: “Lúc đó mình đã thấy khỏe nhiều, đã nghĩ không bao giờ vướng lại nữa, vậy mà...”. Cuộc đời sinh viên xa nhà, vừa học vừa làm kéo dài trong hai năm. Sau đó, việc kinh doanh thất bại. Buồn. Chán. C. tụ tập bạn bè, “chơi dăm ba liều” và một lần nữa C. lại bị ma túy quật ngã.

Đến năm thứ tư đại học, chỉ còn vài tháng nữa là thi tốt nghiệp nhưng C. đã kiệt quệ, hết thuốc chữa. C. quay về Sài Gòn, bỏ lại giấc mộng cử nhân luật, giấc mộng kinh doanh còn dở dang. Những mũi kim định mệnh đã truyền vào anh virus HIV. “Vẫn biết mình làm mình chịu nhưng tôi và gia đình không khỏi sốc”, C. ngậm ngùi.

Trở về Sài Gòn trong thân xác một con nghiện tàn tạ, lại thêm căn bệnh AIDS, C. hoàn toàn cô độc, suy sụp. C. nhớ lại: “Gia đình khi đó chỉ muốn tôi đi đâu thì đi, chết ở đâu cũng mặc. Tôi vất vưởng ngoài đường. Nhìn người ta chở nhau đi qua đi lại, họ cười, họ nói, họ có cuộc sống có thể nghèo, có thể giàu nhưng sao êm đềm quá.

Còn tôi? Tôi đã đánh đổi mọi thứ trên đời để đi tới cái chết...”. Nhưng cuộc sống đẹp quá, cái chết còn ở đâu đâu, C. lại quay về nhà, quì xuống chân cha mẹ “xin hãy cho con một cơ hội cuối, xin cha mẹ hãy tin con lần nữa, xin cho con được đi cai nghiện”.

Và chính trong lần cuối này, C. đã vượt qua, không những thế, anh còn biết đến hương vị một cuộc sống êm đềm, có một người phụ nữ đồng cảnh làm bến bờ bình yên, đang chờ đợi đứa con sắp ra đời, được gia đình, nhiều người tin tưởng và chúc phúc.

Theo Ủy ban Phòng chống AIDS TP.HCM, đã có 249 giáo dục viên đồng đẳng trên địa bàn 14/24 quận huyện. Trong sáu tháng đầu năm 2005 đã có 12.000 lượt người sử dụng ma túy được tiếp cận và giáo dục các biện pháp phòng lây nhiễm HIV thông qua mạng lưới giáo dục viên đồng đẳng; phân phối 120.000 bao cao su và 2.880 túi dầu bôi trơn cho các đối tượng nguy cơ cao; có 10.000 bơm kim tiêm được trao đổi.

Cuộc chiến cuối cùng và ngôi nhà khát vọng

Ban đầu, C. tham gia câu lạc bộ (CLB) “Bạn giúp bạn” như tìm một chốn trò chuyện với những người đồng cảnh, nhưng rồi lại say mê lúc nào chẳng hay. Anh tìm đến những người nhiễm HIV như một nhu cầu sống. Đầu tiên, C. sáng lập CLB Trẻ - CLB bạn giúp bạn cai nghiện và không tái nghiện tại TP.HCM.

Đã là CLB phải có văn phòng, vậy mà đi khắp quận Tân Bình không ai dám cho thuê nhà làm văn phòng vì cái quá khứ “C. xìke” của anh ngày trước. C. phải cố đi thuyết phục từng người, chứng minh điều mình đang làm là rất cần thiết cho những người lỡ chân vào ma túy, vậy mà đến khi tìm được căn nhà làm văn phòng rồi thì CLB rã đám.

C. cười buồn: “Bao nhiêu tâm huyết đã dồn hết vào CLB, những bạn bè thân nhất, tin tưởng nhất, kỳ vọng nhất cuối cùng lại nghiện ngay trước mắt mình...”. Nỗ lực không thành nhưng C. không bỏ cuộc mà tiếp tục lao vào cuộc chiến mới.

Trong vai trò là nhân viên làm cho dự án ATS (điểm tham vấn xét nghiệm tự nguyện miễn phí) tại TP.HCM, anh bắt đầu tiếp xúc, tìm hiểu những người chung chí hướng với mình. C. là một trong những tham vấn viên đầu tiên và chuyên nghiệp về HIV/AIDS. Anh tìm kiếm trong sáu tháng thì có được ba người ‘tâm đầu ý hợp” rồi cùng nhau góp tiền, tạo thành một ngân hàng chung của nhóm (cùng với sự hỗ trợ tài chính của một nhà tài trợ giấu tên), gầy dựng một mô hình giúp đỡ người nhiễm HIV.

Trong khi các nhóm ở những mô hình đang phổ biến khác có quan niệm: chỉ người nhiễm HIV mới giúp người nhiễm HIV, chỉ người nhiễm HIV mới yêu thương người nhiễm HIV. Nhóm của C. phản biện: điều này vừa đúng vừa sai. Thực tế, những bậc phụ huynh (dù họ không nhiễm HIV) nhưng vẫn rất lo lắng và mong muốn được hỗ trợ con, cháu của mình sống có ích.

Vì vậy ngôi nhà “Khát vọng” hoan nghênh mọi đối tượng góp sức cho nhóm. Phụ huynh người nhiễm HIV có thể giám sát hoạt động của nhóm thông qua các báo cáo chi tiết từng tháng. Tiêu chí rất rõ ràng: giúp đỡ người nhiễm HIV để họ tự nâng cao trình độ, tự lực kiếm sống và vươn lên.

Mô hình có những cái mới này được sự ủng hộ của nhiều bác sĩ, chuyên viên tâm lý xã hội. Để tạo nguồn thu hoạt động của ngôi nhà “Khát vọng”, C. và đồng sự đã nhận thực hiện các đề tài phỏng vấn, điều tra xã hội học (thực hiện bảng hỏi về người nhiễm HIV cho các tổ chức nghiên cứu cộng đồng).

Khi tôi có mặt tại ngôi nhà “Khát vọng”, một thanh niên nghi mình bị phơi nhiễm HIV đến giãi bày nỗi hoang mang. Các thành viên đã ân cần chỉ cho người bạn trẻ này các phương án giải quyết, địa chỉ xét nghiệm, chia sẻ thuốc đặc trị để người bạn uống trong trường hợp khẩn cấp này.

Uy tín của ngôi nhà “Khát vọng” được tăng lên trong “cộng đồng HIV” khi họ sẵn sàng tư vấn cả lúc nửa đêm và hoàn toàn miễn phí khi chuyển bệnh nhân đến các cơ sở y tế phù hợp. Chỉ riêng tháng 1-2006, nhóm đã tiếp xúc 40 thân chủ, tư vấn cho 380 lượt người, tổ chức tám cặp đồng hành hoạt động hiệu quả.

Từng thành viên tham gia các lớp nâng cao năng lực tổ chức, thiết kế chương trình, tìm kiếm kinh nghiệm làm việc với các dự án. Họ cũng tự kiểm tra kiến thức cho nhau bằng các bài trắc nghiệm về kiến thức HIV, kiến thức điều trị, chăm sóc bệnh nhân HIV và các bệnh cơ hội.

Ngôi nhà “Khát vọng” đã tìm thấy con đường đi tới trong lúc tưởng chừng như cuộc đời chỉ còn màu đen của những người nhiễm HIV. Ngôi nhà, nơi ghé qua của những người khát khao được sống có ích, đã nhận được sự ủng hộ không chỉ về tài chính mà lớn hơn là sự tin tưởng của nhiều bậc phụ huynh khi gửi con em vào đây sinh hoạt.

C. nói khi chia tay với tôi: “Người ta thường liên tưởng đến cái chết khi hay tin mình bị nhiễm HIV/AIDS. Nhưng thực tế cái chết không dễ dàng như thế được. Người ta có thể chết sớm hơn rất nhiều khi bị cộng đồng kỳ thị, xa lánh, họ chết vì mặc cảm, vì tuyệt vọng hơn là vì HIV/AIDS. Chúng tôi đang khát vọng sống ghê gớm lắm...”.

HỒNG VÂN
Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất