18/10/2006 05:09 GMT+7

Trần Kiên qua câu chuyện người vợ

BẢO TRUNG ghi
BẢO TRUNG ghi

TT - Đã hơn hai năm sau ngày ông Trần Kiên ra đi, bữa cơm nào cũng vậy, đôi tay người vợ một đời thủy chung vẫn xới thêm một chén để bên cạnh, đặt thêm đôi đũa: “Ông về ăn mấy hột với tui...”. Bà Võ Thị Nhược bùi ngùi hồi tưởng...

oiKEddHn.jpgPhóng to
Bà Võ Thị Nhược bên bàn thờ chồng - Ảnh: B.TRUNG
TT - Đã hơn hai năm sau ngày ông Trần Kiên ra đi, bữa cơm nào cũng vậy, đôi tay người vợ một đời thủy chung vẫn xới thêm một chén để bên cạnh, đặt thêm đôi đũa: “Ông về ăn mấy hột với tui...”. Bà Võ Thị Nhược bùi ngùi hồi tưởng...

Ngôi nhà nhỏ, nhân cách lớnNhững ngày này, càng nhớ anh Trần KiênCâu chuyện đồng chí Trần KiênGiá như có hàng ngàn bác KiênCâu chuyện đồng chí Trần KiênNhà công - xe công - đất công: Nước trong phải từ nguồn...“Cán bộ phải như anh Kiên”

Đám cưới không có chú rể

Hồi ấy tui với ổng có biết chứ chưa quen nhau. Ổng ở xã Nghĩa Kỳ, chuyên làm mía, tui có nghề làm hàng xáo ở xã Nghĩa Thắng, cùng huyện (Tư Nghĩa, Quảng Ngãi). Hết mùa gặt hái, tui với mấy chị em trong xóm vác đòn gánh đi mua lúa khắp các làng quê ở Tư Nghĩa. Về nhà xay, gánh đi bán khắp các chợ quê kiếm chút tiền lời, cốt lấy cám nuôi heo.

Một bữa, có một cụ già ra chợ An Hội hỏi tìm tui mua mấy ký gạo. Tay đong nhưng cứ nhìn mặt rồi hỏi chuyện, hỏi tuổi tác. Mấy ngày sau tui biết đó là ông mối, rồi hai gia đình bàn bạc, dạm hỏi, gần năm sau làm đám cưới.

Đó là năm 1950. Lúc này tui đã vào Đảng, làm cán bộ phụ nữ xã Nghĩa Thắng. Ổng cũng vậy, đi hoạt động, bận công tác xa không về. Ngày cưới không có chú rể và nhà trai cũng không rước dâu. Hôm trước ngày cưới, cả hai có gặp nhau một lần, chỉ kịp nói với nhau vài câu rồi đi.

Rồi tui vẫn đi làm hàng xáo. Hơn hai tháng sau ngày cưới ổng về. Lúc đó mới làm lễ rước dâu, nhưng cả hai chỉ có một đêm, chưa bén hơi thì sáng sớm ổng lại đi. Một năm sau đó ổng trở về thêm hai lần nữa, nhưng cũng chỉ vài ngày rồi lại đi.

vFpXXaaw.jpgPhóng to

Những ngày hòa bình

Những ngày vui nhất là hòa bình. Từ lúc này vợ chồng luôn gần gũi. Ổng cũng khỏe dần lên, tui cũng có da có thịt hơn, nhưng cả hai đã già. Nhiều đêm, nằm bên cạnh, tui nghe ổng thở dài...

Mấy lần tui năn nỉ ổng: thôi xin đứa con nuôi. Nghe, ổng chỉ cười: “Tui với bà đi làm cách mạng là góp sức để lo cho hàng ngàn đứa trẻ, cho thế hệ sau, hòa bình rồi, sao bà sợ đơn độc?”. Ổng nói phải quá, cả đời ổng đã lo cho hàng ngàn đứa trẻ, đến lúc ra đi ổng có gì cho riêng ổng đâu!

Những năm ổng làm chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra trung ương, vợ chồng đang ở ngôi biệt thự khu Trung Tự, Hà Nội, có giậu cúc tần đẹp lắm, một giàn phong lan nữa, ổng rất mê phong lan. Trước hôm Đại hội VII bế mạc, tui bàn với ổng: bây giờ Bắc - Nam thống nhất cả chục năm rồi, ở đâu cũng được, hay là mình cứ ở lại thủ đô ít năm nữa, nghỉ ngơi và chữa dứt căn bệnh dạ dày rồi tính tiếp. Ông kiên quyết: “Vào thôi, vào Tây nguyên, tui hứa với bà con, buôn làng ở trỏng rồi. Tui về hưu, có nhiều thời giờ lo cho bà con hơn”. Vậy là đi. Bế mạc đại hội là đi luôn. Chỉ có một cái xe cam nhông chở mấy thứ linh tinh. Tài sản có giá trị nhất là chiếc xe đạp ổng mua cho tôi hồi năm 1971...

Tui còn nhớ một đêm cuối tháng mười, mưa to lắm. Ổng về buổi chiều mà buổi tối tui phải chủ trì cuộc họp hội phụ nữ xã, định dời sang bữa khác, ở nhà với chồng. Nghe vậy ổng la: “Làm cách mạng thì mình phải gương mẫu hi sinh, đêm nay nghỉ thì lần sau không vận động chị em được nữa”.

Vậy là ổng xách đèn dầu dẫn tui đi, ổng ngồi ngoài hiên, chờ họp xong thì đưa về, lúc đó gà đã gáy canh đầu. Đêm hôm sau, không hiểu làm sao tui cứ thấy xấu hổ, không dám đi ngủ, cứ nấn ná ngồi vá cái lưng áo rách của chồng, rồi đơm mấy cái nút. Ổng ngồi bên cạnh ghé tai nói nhỏ: “Kháng chiến chắc không còn lâu, em ở nhà ráng hoạt động tốt, anh về!”. Không ngờ đó là lần gặp nhau cuối cùng cho đến ngày tập kết.

Kẻ Bắc người Nam

Tui vào Qui Nhơn rồi ra Bắc trên chuyến tàu xuất phát ngày 13-11-1954. Trước đó, chờ mấy ngày ở Qui Nhơn vẫn không thấy ổng về, vừa nóng ruột vừa buồn. Người ta đi có người đưa tiễn, còn tui một thân một mình. Sau này mới biết ổng sắp xếp với tổ chức cho tui đi an toàn, nhờ anh em chăm sóc giùm vì sợ tui say sóng.

Gần nửa năm sau, ổng gửi thư ra, nói vẫn khỏe. Anh em cho hay ổng được phân công ở lại và lên hoạt động, xây dựng cơ sở ở Tây nguyên. Ổng biết trước nhưng giấu.

Tui đi học y tá rồi về làm việc tại Bệnh viện Việt - Xô suốt hơn mười năm sau đó. Năm 1960, ổng ra Hà Nội dự Đại hội Đảng toàn quốc lần III. Nhưng thời điểm đó còn giữ bí mật, ra nhưng không cho biết trước nên cũng chỉ gặp nhau hai ngày trước khi ổng trở vào Tây nguyên. Thiệt tình tui muốn ổng ở lại miền Bắc.

Tui biết ổng thích lâm nghiệp nhưng cũng rất thích ngành chế biến thực phẩm. Vợ chồng cưới nhau đến lúc đó đã chục năm tròn, số lần gặp nhau đếm trên đầu ngón tay, vẫn chưa có con cái, tủi thân lắm. Ổng hiểu hết nhưng giả đò lảng tránh sang chuyện khác, rồi động viên, an ủi: “Cả triệu người chớ có phải riêng mình đâu. Rồi anh sẽ ra, mình đoàn tụ, lo gì”. Miệng ổng nói vậy thôi chớ thật ra tui biết ổng cũng rất buồn.

Sau khi ổng trở vào mấy ngày, tui đang làm việc thì bị ngất xỉu, buồn nôn. Anh chị em thấy vậy, ai cũng tíu tít săn sóc rồi chúc mừng “chắc chị sắp có con”. Nhưng không phải vậy. Hồi đó, cán bộ thầy thuốc thiếu, mình là y tá nhưng làm mọi thứ, kể cả lau sàn nhà, chùi cửa kính, giặt giũ đồ đạc, có khi làm việc cật lực 12-14 tiếng mỗi ngày. Tui yếu, ăn uống thất thường, chẳng có gì bồi dưỡng nên bị hạ đường huyết chứ chẳng liên quan đến chuyện bầu bì.

Chờ đợi hết năm này sang năm khác, có khi cả năm trời mới nhận được một lá thư. Có lần, cầm lá thư trên tay, thấy mỏng quá mà buồn đến phát khóc. Ổng ít nói, viết cũng ít, chẳng có lá thư nào viết dài hơn một trang giấy. Đọc những dòng chữ ngắn ngủi của chồng từ chiến trường gửi ra, ngắn đến mức chỉ lướt qua hai, ba lần là thuộc lòng. Lá thư nào cũng nói sức khỏe tốt, rồi động viên. Chỉ có vậy. Ổng đâu biết hồi đó tui mất ngủ, cả đêm vặn đèn đọc thư chồng...

Sau Mậu Thân (năm 1968), tui nhất quyết làm đơn xin trở lại chiến trường khu V. Còn nhớ buổi chiều hôm ấy có người báo là tổ chức đã đồng ý, tui mừng đến mức quị xuống mà khóc. Tui nhớ ổng dữ lắm. Vậy là chuyến này vợ chồng gặp nhau. Đã tám năm từ khi ổng ra dự Đại hội Đảng lần III, gần bằng thời gian kháng chiến chống Pháp chớ còn gì...

Nơi chiến trường khu V

Ba tháng trời đi bộ ròng rã vượt Trường Sơn, tui tới được miền tây Quảng Nam. Biết hoàn cảnh vợ chồng nên tổ chức phân công tui về bên hậu cần khu V để hai người có cơ hội gần nhau vì ổng công tác bên khu ủy.

Vượt đường mòn Hồ Chí Minh bị bom giội suýt chết, nhưng khi vào đây càng ác liệt dữ. Có khi máy bay quần đảo thả bom suốt ngày đêm, rồi biệt kích lùng sục. Cứ nghe bom giội là tui lo lắm, nuốt miếng cơm không vào, sợ ổng có việc gì thì chắc tui không sống nổi. Nóng ruột chờ đến ngày thứ ba thì ổng về. Nhìn ổng gầy và hốc hác quá, xanh quá, tui không cầm được nước mắt.

Ổng lại đi công tác, có khi vào bắc Tây nguyên, có khi vào các mặt trận miền Trung. Có lần nghe ổng đi công tác về, mừng quá, tui băng rừng vào khu ủy. Vợ chồng gặp nhau thì đến bữa cơm trưa, ông bảo tui xuống ăn cơm ở bếp khu ủy với anh em chứ vợ chồng không ăn chung. Biết tính ổng nguyên tắc, tui không trách nhưng buồn, nhịn đói luôn.

Sau này mới hay là ổng chỉ ăn được cháo vì đau dạ dày thường xuyên, mỗi bữa chỉ ăn một bát nhỏ, sợ tui lo lắng nên làm vậy. Vợ chồng cũng ngủ riêng, người ngủ bên khu ủy, người ngủ bên khu hậu cần. Ổng thường dặn: “Mình là cán bộ lãnh đạo, phải gương mẫu nghe em, sinh hoạt vợ chồng giữa lúc này không tiện, chiến trường ác liệt”, vậy là thôi. Mấy tháng sau, ổng đi mặt trận rồi vào Gia Lai, Kontum.

Đầu năm 1971, sức khỏe ổng kém đi nhiều nên khu ủy sắp xếp hai vợ chồng ra Bắc để có điều kiện điều trị căn bệnh dạ dày. Lần này tui đã có bầu khoảng 1-2 tháng. Hai vợ chồng mừng lắm. Năm đó tui 46 tuổi, còn ổng 51. Rủi ro không ngờ là tui bị sẩy thai trên đường ra tới tây Thừa Thiên. Vợ chồng che lán ở lại giữa rừng mấy ngày rồi đi tiếp.

Hơn ba tháng điều trị bệnh dạ dày, tui lo bồi dưỡng cho ổng có sức khỏe nhưng ổng không bao giờ chịu lo cho riêng mình. Có lần tui mua bồ câu hầm thuốc bắc cố năn nỉ ổng ăn nhưng ổng phê bình: “Bao nhiêu anh em thương binh đang cần bồi dưỡng, mình không được hoang phí thế này”, rồi kiên quyết không chịu ăn.

Cuối năm 1971, bệnh dạ dày tạm ổn, ổng trở lại chiến trường khu V rồi đi Tây nguyên. Đầu năm 1973, tui lại vượt Trường Sơn trở vào. Đây là thời gian vợ chồng gần nhau nhiều nhất, nhưng bác sĩ nói rằng cả hai đã bị nhiễm chất độc da cam, không còn khả năng sinh đẻ được nữa...

Cán bộ liêm chính thời nay?

* Khi tôi rời giảng đường đại học lên nhận công tác tại Đắc Lắc (năm 1985) đã nghe nhiều câu chuyện rất đáng thán phục về ông Trần Kiên.

Đắc Lắc còn có vị bí thư cực kỳ liêm khiết nữa là ông Huỳnh Văn Cần, cũng giản dị, cũng cần kiệm đến mức khắc khổ, cũng gang thép kiên cường. Với vị bí thư này thì tôi có nhiều lần gặp gỡ và đôi lần nói thẳng những điều gan ruột. Những người liêm khiết luôn cho tôi niềm tin rất lớn để dốc lòng bày tỏ thẳng thắn, kể cả những điều không đồng ý với ông mà không mảy may e ngại.

Sau này về Đà Nẵng, tôi còn nghe chuyện ông Mai Thúc Lân, một vị “quan” có nhiều giai thoại nổi tiếng về sự liêm chính và chống tham nhũng. Khi mới về nhậm chức bí thư tỉnh nhà, ông Lân đi thăm một huyện nọ, sau khi họp hành thăm hỏi, người ta cũng bày một tiệc “gọi là” với tân bí thư.

Lúc đầu, vị tân bí thư này không từ chối, ông cũng nâng một ly chào chúc các cộng sự mới. Thấy thế mọi người sa đà chúc nhau tới tới. Giữa tiệc, một cán bộ mang ly tới chúc, không kìm được bực tức, tân bí thư buông một câu làm cả bàn chết điếng: “Bia của dân, chứ phải bia của mấy anh đâu mà uống nhiều thế?”…

Dần dần hình như vắng dần những con người như ông Trần Kiên. Liệu có phải là điều lo, đáng cho mọi người khắc khoải.

Người liêm chính Việt Nam hiện nay đứng trước hai khó khăn lớn, lớn hơn các cụ đồ ngày xưa. Họ không được kính trọng đúng mức trong nếp sống thanh bần, nhiều khi có người độc miệng còn cho đó là kẻ bất tài, dở hơi. Nỗi đau tinh thần chồng lên nỗi đau vật chất sẽ cộng hưởng nhau nhân lên với cấp độ lũy thừa, người gan góc bền chí lắm mới trụ nổi.

Vì vậy hơn lúc nào hết, toàn bộ hệ thống chính trị, toàn thể xã hội cần phải thực hành tôn liêm và dưỡng liêm. Tôn liêm là để cho người liêm có chỗ nương náu, nâng đỡ tinh thần; dưỡng liêm là chút san sẻ, nâng đỡ đời sống vật chất. Và tại sao có nhiều cơ quan, địa phương cầu tài mà chưa có ai cầu liêm?

* Những ngày này, tôi và chắc chắn các bạn đọc khác của Tuổi Trẻ cảm thấy hết sức ấm lòng khi đọc các bài viết về “con người liêm chính” Trần Kiên.

Tại sao lại có một nghịch lý là những cán bộ cha anh trước đây như đồng chí Trần Kiên phải hi sinh rất nhiều, khổ cực hơn rất nhiều nhưng ở nơi họ không tồn tại cái tâm thức phải thu vén để bù lại những gì đã bỏ ra, trong khi những cán bộ ngày nay ít hi sinh hơn, ít gian khó hơn nhưng lại luôn tìm cách thu vén cho mình nhiều hơn?

Trong bối cảnh hiện tại rất mong báo Tuổi Trẻ tìm và giới thiệu với dân những tấm gương liêm khiết của cán bộ thời nay. Được chiêm ngưỡng những chân dung cán bộ liêm khiết, hết lòng vì dân vì nước ngày nay người dân sẽ ấm lòng hơn rất nhiều.

BẢO TRUNG ghi
Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất