05/01/2011 10:07 GMT+7

Xin mời ngồi lên ghế Tràng Kỷ

JOE STUDWELL
JOE STUDWELL

TTO - Khi tình hình đã lắng dịu ở khu vực Đông Nam Á thời sau thuộc địa, các bố già quay trở lại nơi mà họ luôn luôn có mặt, đó là duy trì việc nâng cao mối quan hệ chính trị để kiếm lợi từ các đặc ân có tính chất phân biệt đối xử, và do đó đã làm biến dạng nền kinh tế do chính phủ kiểm soát. Như vậy, loại người nào thực sự là bố già thời hậu chiến?

l7QTjDhc.jpgPhóng to
TTO - Khi tình hình đã lắng dịu ở khu vực Đông Nam Á thời sau thuộc địa, các bố già quay trở lại nơi mà họ luôn luôn có mặt, đó là duy trì việc nâng cao mối quan hệ chính trị để kiếm lợi từ các đặc ân có tính chất phân biệt đối xử, và do đó đã làm biến dạng nền kinh tế do chính phủ kiểm soát. Như vậy, loại người nào thực sự là bố già thời hậu chiến?

Chỉ có một nghiên cứu thực nghiệm về nguồn gốc xã hội và văn hóa của các đại gia Đông Nam Á trong nửa thế kỷ qua được hoàn thành, và thực sự hấp dẫn. Nghiên cứu này tự giới hạn trong số các đại gia có gốc gác Trung Quốc ở Thái Lan, nhưng cũng có không ít các kết quả nghiên cứu khá thú vị về những nhóm người nhập cư và các nhóm xã hội khác.

Giữa thập niên 1950, một học giả người Mỹ là G. William Skinner đã tiếp cận được, ở một mức độ đặc biệt, với các đại gia của Thái Lan. Ông giành được cảm tình của hai nhà tư sản mại bản Trung Quốc hoạt động trong ngành ngân hàng nên có được các nguồn thông tin tốt để định ra 135 doanh nhân gốc Hoa hùng mạnh nhất ở Thái Lan, và ông đã thành công trong việc phỏng vấn 130 người trong số họ.

Ông nói trôi chảy cả tiếng Thái và tiếng Quan Thoại, có kiến thức về phương ngữ miền nam Trung Quốc, cũng như có sự kiên trì đáng kinh ngạc. Từ trước đến nay, chưa có một học giả hay nhà báo nào thực hiện được một cuộc điều tra có chất lượng cao như vậy.

Các kết quả đạt được là hoàn toàn rõ ràng đối với những ai đã từng bị mắc kẹt ở lĩnh vực văn hóa nằm giữa nhóm cư dân đến từ Trung Quốc, mà đại diện cho họ là những nhà lãnh đạo cộng đồng, và tầng lớp tinh hoa chính trị Thái. Những người nhập cư đến từ Trung Quốc đã dùng sự tiếp biến văn hóa như một phương tiện để đạt được sự nhượng quyền và những tiến triển trong kinh doanh.

Phát hiện là: Không giống như mong đợi, hầu hết các doanh nhân không phải là người đã “mất gốc Trung Quốc” - về phương diện ngôn ngữ, tập quán, giáo dục - ít hơn so với mong đợi. Về khía cạnh mối quan hệ của các đại gia với cộng đồng người Trung Quốc, Skinner đã đề xuất một khái niệm “lãnh đạo từ xa” để hiểu được một thực tế là, các bố già lãnh đạo cộng đồng của họ bằng sự giàu có và ảnh hưởng, bất chấp khoảng cách xa xôi về địa lý và văn hóa giữa họ.

“Một trong những đề tài chính của nghiên cứu này,” ông đã viết, “là một số lượng đáng kể các nhà lãnh đạo Trung Quốc có ảnh hưởng nhất, gần như chắc chắn, là những nhà lãnh đạo từ xa của xã hội và văn hóa Trung Hoa - những người luôn hướng về dân tộc của mình với lòng trung thành vô bờ bến.”

Nghiên cứu của Skinner nêu bật mọi sự phức tạp trong việc nhận diện các đối tượng, được chải chuốt kỹ lưỡng bởi những khuôn mẫu định kiến thông thường của “đại gia Trung Quốc”. Đã nổi lên một hiện tượng là, đại gia càng giàu và càng có ảnh hưởng lớn thì càng ít phục sức theo kiểu Trung Quốc. Skinner đã xây dựng các bảng biểu về sự giàu có và uy tín của các đối tượng mà ông nghiên cứu theo mức độ đồng hóa với văn hóa Thái.

Không nghi ngờ rằng, muốn thành công thì điều phải làm là giảm “tính Trung Quốc” và hướng về bản sắc văn hóa Thái của giới quyền lực chính trị. Đồng thời, cần có một mức độ “Trung Quốc” nhất định để duy trì hình ảnh một nhà lãnh đạo cộng đồng người gốc Hoa, cũng là để cung cấp đội ngũ hậu bị cho việc kinh doanh của các đại gia.

Ở đây, có thể có sự mâu thuẫn khi đưa ra thông tin về nhân thân của các bố già trong toàn khu vực. Nếu không có một nghiên cứu thực nghiệm như của Skinner ở các quốc gia khác nhau, một luận văn như thế có thể không được chứng minh về mặt khoa học. Thế nhưng, những chứng cứ mang tính giai thoại, đã thu thập để viết cuốn sách này, ủng hộ ý kiến rằng, tính cách cá nhân của các bố già được tô vẽ và đôi khi gây nhầm lẫn.

Một người họ hàng của Henry Hoắc - là người ngay từ sớm đã làm việc trong chính quyền Anh ở Hồng Kông trước khi trở nên gần gũi, đủ để làm việc với chính phủ Bắc Kinh và được bổ nhiệm làm Phó chủ tịch Hội nghị hiệp thương chính trị nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa - nói rằng hành vi của các đại gia nên được xem xét qua lăng kính của cuốn sách bán chạy nhất năm 1960 của Eric Berne có nhan đề Trò chơi người ta thường chơi (The Games People Play), và ông nói thêm: “Họ đều muốn có một sự thu mình... để được người đời tha thứ.”

Berne đã phát triển một nhánh liệu pháp tâm lý gọi là Phân tích tác dụng tương hỗ, mà điểm nổi bật là tính dễ uốn nắn của nhân cách. Henry Hoắc, người đã qua đời tại một bệnh viện ở Bắc Kinh hồi tháng Mười năm 2006, biết tất cả về sự đa dạng của nhân cách. Ông đã trải qua quá trình Anh hóa với một học bổng của chính phủ Anh tại một trường học dành cho con cái tầng lớp tinh hoa ở Hồng Kông, trở thành một cầu thủ quần vợt và bóng đá tài năng, và tiếp tục sự tiếp biến văn hóa của gia đình bằng cách gửi các con trai của mình du học tại trường Millfield ở Anh.

Tuy nhiên, đa số giới cầm quyền Anh chẳng mặn mà gì với ông vì các phi vụ buôn lậu lớn của ông trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, và Bắc Kinh đã thưởng công bằng cách ban cho ông quyền độc quyền kinh doanh trong một số hoạt động, ông đã được tái sinh với tư cách là một người theo chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc đến cuồng tín.

Trong nhiều năm, tạp chí Forbes đã cố gắng thu xếp một cuộc phỏng vấn với Fok, người chỉ quan tâm đến việc nói chuyện với các nhà báo Trung quốc đại lục mà ông biết sẽ công bố những lời tán tụng chính thức. Cuối cùng, khi đã đồng ý có một cuộc gặp mặt tại Zhuhai, ông đã ra khỏi xe hơi của mình đủ lâu để tuyên bố như sau: “Một khi các nước già cỗi đã đi xuống - như Ấn Độ, Ai Cập, thậm chí cả Anh - họ không bao giờ ngóc đầu lên được nữa. Nhưng Trung Quốc sẽ lại trỗi dậy." Sau đó, ông chui ngay vào trong xe và dông thẳng, chỉ để lại cho phóng viên một tài liệu photocopy rất ngắn.

Chơi trò đóng vai - một phần tất yếu trong cuộc sống của các bố già - có thể giải thích sự mất an ninh dường như luôn làm họ khổ sở. Khía cạnh này là một nỗi ám ảnh với địa vị của họ. Các bố già châu Á thu thập và trưng bày các huy chương, danh hiệu danh dự, bằng tiến sĩ... một cách hào hứng đến nỗi khiến cho các tỉ phú người phương Tây phải xấu hổ. Ví dụ, Stanley Hà quả quyết rằng rằng các thuộc hạ luôn gọi ông ta là “Tiến sĩ Hà”; Henry Hoắc đã từng được gọi là “Tiến sĩ Hoắc”.

Điều này không thích hợp với các đại gia cờ bạc. Khi một trong những trợ lý của Stanley giao tiếp trên điện thoại, nói bằng tiếng Anh câu: “Văn phòng Tiến sĩ Hà đây”, người có thể thường xuyên nghe thấy tiếng la hét bằng tiếng Quảng Đông của đại gia, có âm thanh của bầy vệ sĩ của ông ta làm nền.

Tại Malaysia, các tỉ phú cao cấp kết hợp các danh hiệu khác nhau mà chính quyền liên bang và tiểu bang tặng cho họ với những danh hiệu của các học viện, và họ tự tạo hình mẫu với những lời tôn kính tăng lên gấp ba lần. Ví dụ, Khâu Gia Bành của Hiệp hội doanh nhân Malaysia (MUI) là “Tan Sri Dato Tiến sĩ Khâu Gia Bành”.

Khi quan sát các xu hướng tương tự ở Thái Lan, nơi các đại gia người nước ngoài từ lâu đã khao khát các danh hiệu do hoàng gia ban tặng, Skinner nhấn mạnh nghiên cứu tâm lý xã hội. Ông lưu ý, việc xem xét những tình huống của nhóm thiểu số cho thấy rằng những người đã trải qua đồng hóa ở mức độ đặc biệt cao được định hướng để có được một bộ đầy đủ các đặc quyền dành cho nhóm người đã đồng hóa.

“Các nhà lãnh đạo người Trung Quốc có tầm ảnh hưởng nhất, tại thời điểm thực tế,” Skinner viết, “nhạy cảm hơn những người Trung Quốc khác trong việc tạo ra một áp lực hướng đến đồng hóa hơn nữa." Các biểu tượng của sự công nhận cấu thành danh hiệu chính thức, do đó trở nên đặc biệt quan trọng.

Nhưng cuộc khủng hoảng về nhận diện các bố già vượt xa những lời nói tôn kính (và là một điểm yếu đối với các văn phòng cực rộng trên tầng áp mái - họ muốn được hiểu như nghĩa đen của biển hiệu đặt trên đỉnh tòa nhà). Một chủ đề gây tranh cãi là các đại gia thường bị thu hút bởi giáo lý Cơ đốc Phúc âm.

Thomas và Raymond Quách của Tân Hồng Cơ và Ronnie Trần của tập đoàn Hồng Long ở Hồng Kông, Khâu Gia Bành của MUI và gia đình Yeoh của tập đoàn YTL ở Malaysia, Riadys của tập đoàn Lippo và Soeryadjayas, người nắm quyền kiểm soát Astra ở Indonesia chính là những tỉ phú ở Đông Nam Á cải theo đạo Thiên chúa.

Trong số những người tích cực cải đạo nhất có Khâu Gia Bành, người bạn và đối tác kinh doanh của nhà truyền giáo qua truyền hình người Mỹ Pat Robertson, người đã mua lại nhà hát Kuala Lumpur bị bỏ không để làm nhà thờ và bắt đầu xây dựng nhóm doanh nhân vì Chúa Kitô. Gia đình Riady đã xây dựng một nhà nguyện tư nhân ở tòa tháp văn phòng Lippo Centre ở Hồng Kông và họ mời những người muốn cải đạo tới đó.

Một người bạn lâu năm của gia đình nói ông ta đã sống trong nỗi sợ hãi khi bị lôi kéo đến đó. Một số người biết đại gia theo Kitô giáo hoài nghi về tín ngưỡng tôn giáo của họ, nhưng điều này không trả lời cho câu hỏi tại sao một số đáng kể trong hội huynh đệ của đại gia này được lôi kéo theo đạo Cơ đốc phúc âm.

Chính Francis Yeoh của YTL đã nói rằng Kitô giáo đối lập với chủ nghĩa cá nhân thái quá vốn có trong văn hóa Trung Hoa. Ông than phiền, người Trung Quốc giống như vi khuẩn a-míp. Tại Indonesia, Edwin Soeryadjaya, con trai cả của tộc trưởng William, nói về sức thu hút của Kitô giáo: “Lý do có thể là không hề có sự chắc chắn nào ở đất nước này. Vì vậy, bạn đặt niềm tin của bạn vào ai?”.

Các tín đồ bố già không gợi ý điều gì, nhưng cũng có thể đúng là đạo Cơ đốc Phúc âm cho phép họ có một niềm tin mạnh mẽ ở nơi mà cuộc sống hàng ngày của họ thể hiện không có niềm tin vào tất cả, trừ khi giới nắm quyền lực chính trị đưa ra một lời ám chỉ. Cũng có thể tin rằng, tôn giáo không làm cho các chính trị gia châu Á phải phiền não, trong khi nếu có những quan điểm độc lập về chính trị hay xã hội lại là thảm họa.

Một điều nữa có vẻ là biểu hiện của sự mất an ninh trong số các bố già người Trung Quốc là nỗi ám ảnh với “tính Trung Quốc” đã được chứng minh cùng với thuyết ưu sinh. Điều này chỉ trở nên rõ ràng hơn trong thời gian gần đây, khi Trung Quốc lại nổi lên với tư cách là một thế lực lớn trong khu vực. Nghiên cứu trường hợp nổi tiếng nhất là Lý Quang Diệu, một đại gia thuộc loại đức hạnh với một thực tế là ông ta đã quốc hữu hóa và nắm giữ nền kinh tế của Singapore sau năm 1959.

Lý đã thụ hưởng nền giáo dục Anh, học tại Học viện Raffles dành cho tầng lớp tinh hoa và Đại học Raffles tại Singapore cũng như Đại học Cambridge (các học viện từng giáo dục những đại gia của Malaysia và Singapore, trong đó có Robert Quách và Quách Lệnh Xán). Sau khi đi du học về, ông ta được gọi là Harry Lý. Năm 1967, ông ta nói với một thính giả tại Hoa Kỳ: “Tôi không còn là người Trung Quốc nữa, cũng như Tổng thống Kennedy không còn là người Ai-len.”

Tuy nhiên, khi Singapore trở nên phồn vinh và Trung Quốc bắt đầu mở cửa vào thập niên 1980, Lý đã trở nên thực tế hơn bao giờ hết trong việc giải thích sự thành công của quốc gia thành bang này theo văn hóa Nho giáo và các giá trị “châu Á”. Ông từng học tiếng Quan Thoại và Phúc Kiến của Trung Quốc trong thập niên 1950, và đầu thập niên 1960, khi đã ổn định địa vị chính trị nổi tiếng của mình thì nhân dạng cũ của Lý đã bị chôn vùi.

Có lần, Lý Quang Diệu đã cảnh báo sinh viên Singapore, vào năm 1986, rằng họ không bao giờ được đánh mất “xu hướng Nho giáo của mình để liên kết lại quanh vùng đất trung nguyên, thời khắc đó chúng ta sẽ trở thành một xã hội Thế giới thứ ba”. Như nhà viết sử Trung Quốc ở hải ngoại Lynn Pan đã viết: “Việc làm khác đi hình ảnh của Nho giáo ở Singapore là một trong số cách thức thể hiện lớn của chủ nghĩa đề cao chủng tộc cá nhân".

Hành trình tìm hiểu nhân diện của Lý Quang Diệu đã làm cho ông ta được coi như ngày càng trở nên say đắm thuyết ưu sinh về chủng tộc phổ biến ở nước Anh thời vua Edward VII. Ông đã thiết lập một cơ quan nhà nước làm việc mai mối tại Singapore, gọi là Cơ quan phát triển xã hội, để giúp ghép đôi các cặp có mức độ thông minh như nhau, và ủng hộ cho sự trở lại của tục đa thê trong xã hội Trung Quốc truyền thống.

Lynn Pan đã đề cập đến nhận định của nhà báo T.J.S. George rằng “ông ta phát hiện ở Lý sự mất an ninh của một người đàn ông bị bệnh tâm thần do bị trói chặt bằng sợi dây chão Trung Quốc, một người, vì không hoàn toàn thuộc về nơi nào, đã phải tái chế Singapore trong hình ảnh của chính mình để bù đắp cho sự bị ghét bỏ của riêng mình”.

Không để hiểu hết được áp lực tâm lý xảy ra khi bị trói buộc giữa các nền văn hóa khác nhau. Một bố già điển hình cần phải là một người nói được nhiều thứ tiếng, có thể trình diễn hơn một bản sắc văn hóa để thành công.

Một đại gia gốc Trung Quốc thành công tuyệt đỉnh sẽ nói được hai hoặc ba phương ngữ Trung Quốc - tiếng Quảng Đông, cộng với một hai thứ tiếng khác - cũng như tiếng Quan Thoại, tiếng Anh, một tiếng bản địa Đông Nam Á như tiếng Thái hoặc tiếng Indonesia Bahasa, và có lẽ một chút tiếng Nhật đã lượm lặt được trong chiến tranh. Có một sự căng thẳng liên tục đi cùng với điều này, liên quan đến câu hỏi: bản sắc “thực sự” của một người nào đó là gì?

Lý vẫn còn xa rời thực tế là tiếng Trung Quốc của ông ta không tốt bằng tiếng Anh. Đây là một điều kiện có ảnh hưởng đến nhiều người Trung Quốc được giáo dục theo kiểu Anh. David Lý của Ngân hàng Đông Á của Hồng Kông, người đã được gửi đến một trường công lập ở Anh, nhạy cảm với thực tế là ông ta hiểu các văn bản tiếng Trung Quốc rất kém.

Budi Hartono, Giám đốc điều hành của đế chế thuốc lá Djarum là người gốc Hoa, và là một trong những đại gia giàu nhất Indonesia, từng học ở một trường của thực dân Hà Lan và vẫn còn đọc và viết tiếng Hà Lan tốt hơn so với tiếng Indonesia Bahasa; ông ta không nói được tiếng Trung Quốc. Ngược lại, Dhanin Chearavanont, tộc trưởng người gốc Hoa của của tập đoàn CP ở Thái Lan, luôn luôn lúng túng vì tiếng Thái của ông vẫn còn rất nặng giọng Trung Quốc mặc dù gia đình ông đã hoạt động ở Thái Lan từ thập niên 1920.

Nỗi khó chịu nổi lên hàng đầu là thành kiến chủng tộc mà những người của thế hệ các bố già tiền bối phải chịu đựng trong thời thuộc địa. Thái độ trịch thượng của chính quyền thuộc địa Anh tại Singapore đối với một người có lòng tự trọng như Lý Quang Diệu là không dễ chịu đựng. Robert Quách, người đã trở nên nổi tiếng với đám bạn bè làm ăn về học thuyết gien di truyền của mình, và các quan điểm mạnh mẽ về chủng tộc, đã được gửi tới một tu viện khi còn là một đứa trẻ, nơi các bà xơ dạy bảo rằng các cuộc đi lễ chùa chiền thờ Phật của gia đình ông là một dạng thờ phụng ma quỷ.

Nền giáo dục Anh dành cho con nhà thuộc tầng lớp tinh hoa mà ông được thụ hưởng - trường đại học Anh tại Johor Baru của Malaysia và trường Raffles ở Singapore - và sự nổi lên của ông như là một “người Trung Quốc được sinh một lần nữa” trong thời kỳ độc lập, giống như một hình phản chiếu của Lý Quang Diệu.

Quách trở thành một nhà tài trợ chính cho “các hội nghị” của người Trung Quốc ở hải ngoại trong những năm 1990; ông đã phát tín hiệu về độ thuần khiết Trung Quốc thông qua cuộc hôn nhân thứ hai của mình (người vợ đầu của ông là một phụ nữ lai Á-Âu) bằng cách đặt tên cho các con bằng tiếng Trung Quốc; và ông trở nên thẳng thắn hơn bao giờ hết khi đặt cơ sở di truyền cho sự thành công về kinh tế của người Trung Quốc ở hải ngoại.

Ở nơi có sự phân tích lạnh lùng về thành công của những người như Lý Quang Diệu, Robert Quách và Henry Hoắc đã tìm ra nguồn gốc của thành công trong tính chất của chủ nghĩa thế giới của họ - khả năng làm việc trong các môi trường ngôn ngữ và văn hóa khác nhau - họ tự tìm kiếm một lời giải thích giản đơn về văn hóa.

Điều này có thể gây khó chịu cho con cái của các bố già, nhiều người trong số họ - phù hợp với môi trường có giao thoa văn hóa mà họ lớn lên trong đó - đã kết hôn với người không phải gốc Trung Quốc. Một người anh em rể của Robert Quách mô tả ông ta là “một người cố chấp về chủng tộc nhất mà tôi từng gặp”.

Tuy nhiên, điểm lớn hơn là các bố già đang hai lần vướng vào một trò tự lừa dối mình. Đầu tiên là để giả vờ rằng câu chuyện phát triển kinh tế ở Đông Nam Á là một câu chuyện Trung Quốc, ở nơi nó là câu chuyện về sự nhập cư. Thứ hai là để tránh một thực tế rằng họ - các đại gia - thường có các lợi thế thực tế trong nhóm những người nhập cư để thành công trên toàn thế giới.

Trở lại công trình nghiên cứu của Skinner về các đại gia của Thái Lan, đó rõ ràng là những lợi thế mà họ có. Các đối tượng nghiên cứu của Skinner được giáo dục tốt hơn so với chương trình giáo dục phổ biến. Ông cho rằng: "Đối với kết quả giáo dục, không thể bác bỏ là các nhà lãnh đạo đã tạo nên một nhóm đặc quyền trong xã hội Trung Hoa ở Bangkok”.

Và chỉ có một phần năm trong số họ có thể được mô tả là “tự thân vận động”. Một thực tế các lợi thế về hoàn cảnh ra đời là phổ biến. Điều che đậy đáng chú ý nhất của các bố già là lòng quyết tâm của họ để chứng minh có một sự biến chuyển từ nghèo khổ trở thành giàu có.

JOE STUDWELL
Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất