15/07/2007 10:05 GMT+7

Rùa vàng xứ tôi

NGUYỄN HỒNG TRANG
NGUYỄN HỒNG TRANG

TTO - Câu ca ấy cũng là sự tích dân gian về con rùa xứ tôi. Theo lời ngoại tôi kể: Xưa kia, vùng đất Mũi, U Minh rất hiếm rùa. Nhưng đến cái năm Thìn nọ, bỗng xảy ra một trận mưa giông bão lụt kinh hoàng, rừng tràm rừng đước đổ ngổn ngang, sóng biển tràn vô đất liền, nước dâng cao lênh láng thành biển cả mênh mông.

“Đồi mồi là bạn ba ba Là ông rùa nắp, là cha rùa vàng”

SPDiPUVM.jpgPhóng to
TTO - Câu ca ấy cũng là sự tích dân gian về con rùa xứ tôi. Theo lời ngoại tôi kể: Xưa kia, vùng đất Mũi, U Minh rất hiếm rùa. Nhưng đến cái năm Thìn nọ, bỗng xảy ra một trận mưa giông bão lụt kinh hoàng, rừng tràm rừng đước đổ ngổn ngang, sóng biển tràn vô đất liền, nước dâng cao lênh láng thành biển cả mênh mông.

Ba ba, đồi mồi biển bị nước xô đẩy vào sâu các kinh rạch, sông ngòi. Đến khi bão tan, nước biển rút, chúng bị kẹt lại trong các đầm, hồ, sông, rạch. Năm tháng trôi qua, đồi mồi biển dần dần thích nghi với môi trường nước ngọt, đồng cạn, lại có nguồn thức ăn dồi dào, chúng sinh sôi và phát triển thành động vật có tên gọi là “rùa”. Rùa sống dưới nước ăn thảo mộc, cuộc sống thảnh thơi, hòa hợp, có tuổi thọ hàng trăm năm. Cũng từ cái đại hồng thủy năm ấy, qua bao đời sinh con đẻ cái, đất Mũi, U Minh thành vùng sông nước nhiều rùa, chỗ nào có nước là ở đó có rùa…

Rùa xứ tôi có mấy loại: rùa vàng, rùa quạ, rùa nắp, rùa hôi và rùa nén… người sành nghề bắt rùa và ăn thịt rùa thì phân biệt rất giỏi loại nào ngon, loại nào dở.

Ở xóm tôi có chú Hai Lành và chú Tư Đờn là người thạo nghề săn bắt rùa. Một lần, tôi với thằng Hợi chống xuồng qua rạch Dừa đặt lọp. Chọn những khúc mương có nhiều rau dừa, bông súng non, nước chảy nhẹ, đặt chiếc lọp giữa lòng lạch con mương. Xong đâu đó, tụi tôi lật nốp ra, đánh một giấc cho đến gà gáy canh tư mới thức dậy. Đêm đó, tối trời, lặng gió, mưa rỉ rả. Người ta nói thời tiết ấy bắt rùa trúng vô kể. Quả thiệt, chỉ có ba cái lọp thôi mà có tới hàng trăm con rùa đủ loại. Bất kể lớn nhỏ, tụi tôi bắt ráo. Hai đứa vội bơi xuồng ra cho kịp phiên chợ sáng. Giỏ rùa vừa đưa lên chợ, hàng chục người đến chọn mua, có người mua đến chục con rùa vàng. Chưa được nửa phiên chợ, giỏ rùa chỉ còn có vài chục con. Từ đó cho đến hết phiên chỉ có vài người đến giở xem rồi bỏ đi, không thấy ai hỏi mua nữa. Tụi tôi cũng không hiểu lý do gì nên nghĩ bụng: “Còn vài chục con thì mang về ăn cho sướng”. Hai đứa vui vẻ xuống xuồng về. Đến nhà, thằng Hợi liền chạy lên khoe rối rít với chú Hai. Chú Hai vò đầu nó khen ngợi:

- Hai đứa con khá lắm, còn lại bao nhiêu đổ ra ba coi, trưa nay làm một bữa rùa xé phay bắp chuối nhậu chơi.

Thằng Hợi chạy vô nhà lấy cái rổ ra, tôi trút hết số rùa còn lại trong giỏ. Chú Hai nhìn rồi quay đi, nói:

- Cái thứ đồ bỏ này bay còn mang về làm chi?

Tôi ngạc nhiên nhìn chú rồi nhìn sang thằng Hợi, không hiểu vì sao chú Hai nói vậy.

- Rùa thế này mà chú cho là đồ bỏ, là sao? - Tôi hỏi.

- A, ha… hổng phải đồ bỏ mà bán không ai mua! Tụi bay làm sao giỏi hơn tao chớ!

Rồi chú bước đến bên rổ rùa, nhặt mấy con để ra đất, chú giải thích cặn kẽ:

- Hai đứa coi kỹ nè, con này là rùa quạ, từ cái mai đến yếm, mỏ, móng chân đen mốc cời, trông xấu xí. Còn loại này gọi là rùa nắp vì ở trước đầu và bốn chân đều có xương mái. Hễ nghe động tịnh là các cái mái sập xuống khép kín mít, cạy cũng không ra, nó nằm kềnh ra đó cho tha hồ đạp, đá cũng không chết. Còn loại kia nhỏ con hơn, mai, yếm màu xám xịt là loại rùa hôi. Loại này thịt dai, tanh, khó ăn hơn. Rõ chưa chú mày? Chỉ có loại rùa vàng là nhất hạng, thịt ngọt như thịt gà tơ, kế đó là rùa quạ còn dùng tạm, còn lại thì bỏ đi không ai xài cả.

Nói đoạn chú Hai nhặt ra vài con rùa quạ lớn, số còn lại chú bảo tôi đem đổ cho chúng nó trở về với sông với rạch.

Trưa hôm ấy về nhà ngồi ăn cơm mà trong lòng tôi vẫn còn tiếc số rùa đã bỏ đi. Tôi hỏi ngoại, tại sao cũng là rùa mà người ta lại quí rùa vàng hơn các loại rùa khác. Ngoại nằm trên võng vừa bỏm bẻm nhai trầu vừa nói:

- Hồi ông ngoại bay còn sống, ổng có kể rằng: Rùa vàng là giống rùa sống ở vùng nước ngọt, không ăn tạp, không lớn con, thịt mềm, ngọt như thịt gà mái tơ. Khi ông Bá hộ Cốc về cai quản vùng đất này, ông ta ra lịnh cho nông dân, thợ rừng ai có món ngon vật lạ ở xứ U Minh đều phải cống nạp như: rùa và trứng rùa vàng mà loại rùa tơ kia, cá rô mề, cá trê nọng, mật ong tràm hoặc bào ngư, bong bóng cá đường… Từ đó rùa vàng trở thành một con vật quí dành cho kẻ giàu sang. Nhưng chim trời cá nước, ai bắt được nấy ăn, nông dân mình có ai dại gì mà nộp hết cho họ. Vì lẽ rùa vàng được mọi người ưa chuộng nên không phải chỉ dành riêng cho bọn nhà giàu mà bà con mình ai cũng ưa dùng. Còn các loại rùa khác thịt dai, tanh hơn nên người ta ít ăn.

Câu chuyện của bà giúp tôi hiểu thêm khá nhiều. Cách đó ít lâu, vào một ngày mùa khô năm ấy, tôi với thằng Hợi lại theo các chú đi ra đồng năn đốt lửa ví rùa. Hai đứa tôi quảy hai chiếc giỏ và một cây đòn xóc, mang theo con chó luốc giúp việc. Trời tháng ba mới hơn mười giờ sáng mà nắng như đổ lửa. Đứng trên những cánh đồng trũng ven rừng cỏ ống, sậy cao ngang ngực mịt mùng, mùa qua mùa cỏ khô cứ chồng chất lên nhau thành từng lớp dày, trên khô dưới ẩm, tôi hỏi chú Tư Đờn:

- Rùa đâu đây mà bắt hả chú Tư?

Chú Tư tủm tỉm nói với tôi:

- Coi cỏ sậy mịt mùng vậy mà ở dưới dấu chân rùa lềnh khênh đó chú mày ạ!

- Chú Tư, rùa sống dưới nước, đẻ dưới nước mà chú?

- A, ha… chú mày sống ở cái xứ sở rùa mà hổng biết rùa đẻ ở đâu thì dở quá chừng! Này nghen: rùa ở dưới nước nhưng lại đẻ trên bờ. Hằng năm mùa khô đến, rùa kéo nhau lên bờ kiếm nơi làm ổ, đẻ trứng. Đến trời sa mưa cũng là lúc rùa con ra đời, lớn lên theo mẹ kéo nhau xuống nước cho đến mùa khô năm sau lại mò lên bờ làm ổ. Cho nên lúc này đốt lửa ví rùa là phải quá…

Nói rồi chú Hai xoay người tìm hướng gió và gọi tụi tôi đến để phân công. Tôi, thằng Hợi và con luốc đi xuống phía dưới gió, còn hai chú thì chuẩn bị đốt lửa. Khi lửa lên ngọn theo gió lan dần ra, khói luồn dưới chân cỏ thì tụi tôi thả con luốc ra cho nó đánh hơi. Khói làm cho lũ rùa động ổ bắt đầu kéo nhau chạy. Hai đứa tôi mỗi đứa một góc với cây cù nèo, đưa mắt quan sát. Hễ thấy con chó đánh hơi bới móc là tụi tôi nhanh chân đến bắt rùa cho vô giỏ liền. Khói càng luồn dưới cỏ lan ra, rùa càng bươn lên cỏ mà chạy, tụi tôi bắt không kịp. Có những con rùa nắp chạy không kịp lửa phải co rút đầu, chân khép chặt nắp lại lăn kềnh ra đất mặc cho lửa táp. Tụi tôi “lượm” rùa không kịp thở, mồ hôi nhễ nhại, khói làm nước mắt nước mũi chảy đầm đìa, mệt muốn đứt hơi. Đầy giỏ rồi mà rùa vẫn bò lềnh khênh, đến nỗi thằng Hợi phải réo chú Hai dập lửa đi thôi. Và mấy chú cháu lại xúm nhau dập lửa. Lửa tắt rồi mà rùa vẫn cứ kiếm đường tháo chạy đầy đất, bắt không xuể. Hai đứa khiêng hai giỏ rùa để lên bờ rồi sải tay nằm lăn ra đất mà thở, một hồi lâu mới thấy đỡ mệt. Trong khi đó, các chú chọn rùa vàng đếm từng con, rùa quạ bự có trứng thì lấy, còn lại đổ xuống kinh. Vậy mà hai đứa tôi gánh về muốn xệ vai, rã giò. Còn một túi trứng rùa hằng trăm quả thì chú Tư quẩy lên vai. Trên đường về, tụi tôi nghe hai chú kể chuyện bọn nhà giàu còn nấu thịt rùa thành món rất bổ. Họ thường chọn rùa vàng có mang bụng trứng, làm lấy thịt rồi chưng cách thủy với các vị thuốc bắc như: sinh địa, thục linh, nhân sâm, hồng táo, ý dĩ, trần bì… Còn nông dân mình thì dùng thịt rùa rất giản dị: nào là cà ri rùa, rùa xé phay, rùa ram mặn, trứng rùa luộc chấm muối tiêu ăn với rau răm…

Chiều hôm ấy, thím Hai làm một thực đơn rôm rả không kém gì ở nhà hàng bình dân. Được một bữa no nê, tối mịt tôi mới về nhà, còn hai chú vẫn cụng ly dài dài cho đến khuya.

Sáng hôm sau, chú Hai sang nhà ngoại xin cho tôi cùng đi với chú ra Cà Mau, tôi mừng quá vì có dịp được thăm má tôi. Hai chú cháu tôi ngồi xuồng ra đường cái để đón xe về Cà Mau. Chiếc xe đang chạy bon bon về Cà Mau bỗng tắt máy, tài xế sửa hoài hàng tiếng đồng hồ vẫn không chạy được. Trên xe có đủ loại khách nhưng phần đông là người buôn chuyến, họ phàn nàn bà chủ xe. Bà ta cũng chỉ biết năn nỉ hành khách. Tôi với chú Hai xuống xe ngồi dưới gốc cây bần bên đường chờ đợi. Từ đây về Cà Mau cũng còn non chục cây số là cùng. Bỗng từ trên xe có tiếng người đàn bà hỏi lớn:

- Cái giỏ rùa này của ai? Giỏ rùa của ai?

Chú Hai đứng dậy đi tới nói:

- Giỏ rùa của tôi đó, có chuyện gì?

Bà ta liền nhảy xuống chạy đi kéo tay bà chủ xe đến trước mặt chú cháu tôi, bà nói lớn như cho mọi người cùng nghe:

- Vậy là phải quá mà, “rùa đi ghe thì ghe mắc cạn, rùa ngồi xe thì xe tắt máy”. Hèn gì chiếc xe của bà không chạy là phải.

Ngồi ở phía sau xe, một số bà buôn chuyến cũng được dịp hùa theo:

- Thôi, thôi mời ông ấy xuống xe đi, bao nhiêu hàng họ của người ta mà chiều nay không đến chợ kịp thì hư hết. Tội nghiệp quá cha nội ơi?!

- Bác ơi mang giỏ rùa xuống hỏi xung quanh coi có ai mua mắc rẻ gì bán phứt cho rồi để nhẹ xe. Trời ơi, đi tàu xe kỵ rùa lắm đó…

Mỗi người một câu, nhẹ nhàng có, hằn học có. Chú Hai giận quá, nói:

- Rùa tôi bắt được, tôi mang ra cho bà con, xe hư tại máy, có can hệ gì tới giỏ rùa của tôi đâu mà các bà cứ làm ầm ĩ? Các bà đừng có mê tín quá vậy. Tôi không bán cho ai hết mà cũng không xuống xe đi đâu ráo, coi các bà làm gì được tôi nè?

Bà chủ xe thấy bà con cự nự cái giỏ rùa quá, buộc lòng đến năn nỉ chú Hai xuống xe, bà hoàn tiền lại cho chú. Hai chú cháu tôi thông cảm cho bà chủ, chú Hai xách giỏ rùa bước xuống xe nhưng vẫn nói với lại:

- Xe hư tại máy, các bà cứ đổ tại giỏ rùa của tôi. Nể bà chủ xe, chú cháu tôi đi bộ. Nhưng các bà chờ đó rồi coi, tôi tới Cà Mau trước hay các bà về tới trước…

Hai chú cháu tôi vừa đi vừa nói chuyện tà tà đến thị xã lúc nào không hay, nhìn lại vẫn chưa thấy chiếc xe đâu. Chúng tôi về đến nhà thì đã lên đèn…

NGUYỄN HỒNG TRANG
Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất