01/06/2008 10:00 GMT+7

Ký ức không quên - Kỳ 2

JONATHAN SCHELL
JONATHAN SCHELL

TTO - Những người dân của Phong Điền lần đầu tiên được biết đến thông điệp này là khi máy bay thả hàng chục nghìn tờ rơi xuống huyện của họ.

Công dân của huyện Phong Điền

R9jj0Q3c.jpgPhóng to
TTO - Những người dân của Phong Điền lần đầu tiên được biết đến thông điệp này là khi máy bay thả hàng chục nghìn tờ rơi xuống huyện của họ.

Một số truyền đơn nêu ra những chỉ dẫn rất cụ thể cho dân chúng ngay trước khi cuộc hành quân bắt đầu. Trên một mặt của truyền đơn 244-099-68, có tiêu đề “Chỉ dẫn cho công dân huyện Bình Sơn” có một sơ đồ gồm có một đường kẻ duy nhất, tượng trưng cho một con đường dài 5 cây số, và bốn cái chấm, tượng trưng cho các làng Tân Hỷ, Long Vệ, Đông Lệ và Phước Hòa từ trái sang phải dọc theo con đường. Một đường kẻ màu đỏ vẽ thành một hình chữ nhật dài mà hẹp khoanh một khu vực nằm giữa các làng Tân Hỷ và Phước Hòa là hai làng của hai đầu sơ đồ. Mặt sau có lời chỉ dẫn:

Công dân huyện Bình Sơn chú ý:

Khu vực được khoanh màu đỏ ở trên sơ đồ này là khu vực nguy hiểm. Không ai được sống trong khu vực này trừ việc đi trên đường. Trong khu vực này không ai được rời khỏi con đường, chỉ được phép đi ra khỏi con đường ở đoạn ngoài khu vực nguy hiểm. Ai bị bắt gặp ở hai bên con đường trong phạm vi 300 mét đều có thể bị bắn.

Các bạn phải tuân theo chỉ dẫn của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa quan tâm đến hạnh phúc của nhân dân. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa không muốn các bạn và thân nhân của các bạn bị tổn thương. Hãy tuân thủ pháp luật của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa.

Một trong những điều đặc biệt bất lợi của việc sử dụng truyền đơn nói chung, hay như loại truyền đơn này là mặc dù những chỉ dẫn khá mạch lạc, rõ ràng, nhưng chỉ có một số ít người dân là có đủ chữ nghĩa để có thể đọc hiểu và hầu như không có nông dân nào có thể đọc hiểu bản đồ. Hoặc như khi những sĩ quan chiến tranh tâm lý người Mỹ soạn thảo các truyền đơn khuyến khích nông dân rời bỏ chủ nghĩa Cộng sản và quay sang phe Chính phủ Sài Gòn, và nói với họ – như một truyền đơn nêu ra – hãy từ bỏ “những ông chủ Trung Quốc của Việt Cộng” hoặc ra lệnh cho họ hãy lựa chọn giữa Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Chính phủ Sài Gòn, hoặc khuyên họ nấu sôi nước trước khi uống, thì những sĩ quan đó lại quên mất điều này: mặc dù kẻ địch là những người thông minh, can đảm và đầy kinh nghiệm, nhưng phần lớn nông dân – đặc biệt phụ nữ, trẻ em và người già – là những người suốt đời hầu như chỉ sống trong cộng đồng nông thôn bé nhỏ của họ, không biết gì về cái hệ thống phe phái của Chính phủ Sài Gòn, về những người Cộng sản Trung Quốc hoặc về những quy tắc vệ sinh hiện đại như trong truyền đơn nêu ra. Ngoài việc cho rằng người nông dân hẳn phải biết chữ và đã quen hiểu những vấn đề như xung đột chiến tranh trên thế giới, thì tác giả của tờ truyền đơn trên còn mặc nhiên cho rằng họ cũng đồng quan điểm với những người thảo truyền đơn về một loạt những nhận định như coi Chính quyền Sài Gòn là hợp pháp và nhân đức còn Mặt trận Dân tộc Giải phóng là tội phạm.

Vào cuối tháng Tám năm 1967, tôi đến Đức Phổ và Mộ Đức là hai huyện cực Nam của tỉnh Quảng Ngãi và ở đó mấy ngày. Đây là Khu Trách nhiệm Chiến thuật của Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn 4. Trước hết tôi đến thăm sở chỉ huy Lữ đoàn ở căn cứ Đức Phổ để hỏi sĩ quan và binh lính của Lữ đoàn về tình hình chống phá của địch, về hiệu quả của các cuộc hành quân và cũng để hỏi về số phận của 200.000 người dân đã sống ở hai huyện này trước khi làng xóm của họ bị hủy hoại. Trong một thông báo vắn tắt, một sĩ quan nói với tôi rằng mặc dù chỉ một số ít đơn vị Mỹ bị thương vong nặng nề trong từng trận đánh riêng lẻ, nhưng nếu tính chung trong mấy tháng, qua hàng trăm cuộc chạm trán nhỏ với quân địch thì quân Mỹ đã bị tổn thất nặng. Anh ta nói tính từ ngày 22 tháng Tư đến giữa tháng Tám, một lực lượng gồm 800 quân chiến đấu trực tiếp với đối phương đã phải chịu đến 610 người chết và bị thương, trong số đó có 120 người chết. Một sĩ quan khác có mặt lúc đó đã nói thêm: “Một trung sĩ chỉ huy trung đội chiến đấu trong vòng ba hoặc bốn tháng thì hầu như chắc chắn sẽ bị ăn đạn địch”. Viên sĩ quan này nói tiếp rằng cũng trong thời gian nói trên, Lữ đoàn 3 của Sư đoàn 4 đã tiêu diệt 1.875 địch và thu được 566 khẩu súng. Trong vòng khoảng một tháng Lữ đoàn có tiến hành làm một bản thống kê về cái gọi là “cơ cấu tổ chức quân sự địch bị phá hủy”, nhưng rồi sau đó Lữ đoàn lại hình như không hứng thú gì với bản thống kê này nữa, bởi vì con số “3.128 tổ chức quân sự bị phá hủy” trong vòng hơn một tháng thể hiện bằng biểu đồ treo trong lều giao ban chỉ huy, về sau chẳng được tiếp tục cập nhật. “Chúng tôi ngừng việc thống kê ngay sau tháng đầu tiên”, viên sĩ quan nói.

Một sĩ quan cao cấp tỏ ra lo lắng sâu sắc về tình hình hai huyện Đức Phổ, Mộ Đức. Khi tôi hỏi điều gì xảy ra với dân chúng sống trong hai huyện này, ông nói:

- Chúng tôi ước tính có 100.000 dân đang sống ở Đức Phổ. Trong số đó, khoảng 10.000 người đang sống trong các trại tị nạn, và 28.000 người nữa đang sống trong các thị trấn dọc Quốc lộ 1, đây là khu vực an toàn của chúng ta. Như vậy có nghĩa là có khoảng 52.000 người vẫn đang sống trong các vùng mà chúng tôi vẫn bắn đại bác suốt đêm. Và không có cách gì để bảo đảm an ninh cho bất kỳ làng nào ở đó. Chúng tôi thường sục vào một làng, rồi lại rút khỏi làng đó chỉ mấy giờ hoặc mấy ngày sau đó. Chỉ trừ các thị trấn Mộ Đức và Đức Phổ và một dải ven biển từ đây về phía Nam – khu vực này bị phá hủy mất khoảng một nửa – phần còn lại của hai huyện này đã bị phá nát. Câu hỏi đặt ra là từ đây chúng ta sẽ làm gì nữa? Quân Việt Nam Cộng hòa được dự kiến sẽ làm công tác Bình định – tức là đi vào những làng sau khi chúng tôi đã sục vào – nhưng họ chẳng làm được việc này. Họ có ở đây đâu? Nhưng đừng nghĩ rằng chúng tôi là những kẻ duy nhất làm việc này đâu nhé. Anh đã đến tỉnh Bình Dương chưa? Sư đoàn Thiết giáp 1 đã xóa sạch mọi ngôi làng có súng bắn tỉa nhắm lên trực thăng của họ. Bọn tôi cứ phải làm cái trò đếm xác chết tiệt này. Nếu người ta có thể quên điều đó đi một lúc và để ý đến con số 400 người đào ngũ, mới thấy đó chính là điều quan trọng. Nhưng tôi cũng muốn nói với anh điều này: Chúng ta chưa hề giành được con tim và khối óc nào của dân, đó là sự thực.

Nét mặt viên sĩ quan bỗng trở nên khắc khổ, anh ta lắc đầu:

- Thỉnh thoảng chúng tôi thu hồi lệnh bắn phá bởi vì có đàn bà và trẻ con ở đó. Theo tôi nghĩ, việc cho rằng đàn bà và trẻ con đều là Việt Cộng thật không ổn. Cách đây mấy tháng, chúng tôi dùng trực thăng chở nhiều người dân đi nơi khác trước khi đốt làng mạc của họ. Nhưng khi đưa họ đến Đức Phổ thì người phụ trách tị nạn ở đây kêu là không thể thu xếp cho họ được vì số người ở đây quá đông, hiện đã không đủ lương thực và nhà tôn cho họ, nên không thể giữ những người mới đến. Thế là họ lại quay về quê cũ và chui xuống hầm mà ở.

Tôi hỏi viên sĩ quan liệu Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn 4 đã tìm được cách thức nào có hiệu quả để thực hiện các mục tiêu chiến tranh của Mỹ ở miền Nam Việt Nam chưa.

Thay vì trả lời, viên sĩ quan lại đặt cho tôi câu hỏi:

- Nếu anh được giao nhiệm vụ này với một lực lượng cỡ này, trong khu vực này thì anh sẽ xoay trở như thế nào?

Một sĩ quan Tâm lý chiến từng công tác ở Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn 4 kể lại:

- Anh có thể cho là tôi nói đùa, nhưng chuyện sau đây là có thật. Thỉnh thoảng trước khi chúng tôi định oanh kích một ngôi làng, thì ngay trước hôm đó, hoặc một tuần trước đó, đại khái như vậy, máy bay FAC sẽ bay trên khu vực đó và cảnh báo cho dân chúng quanh đó. Anh biết không, đó là khu vực đã được báo trước là không ai được ở lại đó cả. Họ không được có mặt ở đó. Bởi vậy bọn tôi chỉ việc cho một trực thăng bay đến đó một giờ trước khi oanh kích và báo cho mọi người đi ra khỏi khu vực. Và anh sẽ nhìn thấy bọn họ đặt đòn gánh lên vai, rồi dắt trâu ra khỏi làng. Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn 4 quả thật có làm tốt việc này. Nhưng nhiều khi sự việc diễn ra không phải như vậy. Nhiều đơn vị Mỹ chỉ có việc phán “Khu vực không dân, quần nát nó đi” rồi oanh kích ngay. Nhưng như tôi đã nói, Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn 4 thì khá hơn – đã biết thông cảm với người dân, chỉ thế thôi. Quy luật hoạt động là phải cho một máy bay Tâm lý chiến bay trên một làng trước khi đánh vào làng đó, trừ khi bị bắn lên thì có thể trả đũa ngay lập tức, không phải xin lệnh bất cứ ai. Cố nhiên điều thỉnh thoảng xảy ra là lính bộ binh mỗi khi sục sạo càn quét thường đốt phá vài ba ngôi nhà. Đáng ra là không được làm thế, nhưng điều đó xảy ra mọi nơi. Cũng dễ hiểu thôi, đi sục sạo thường hay nổi cáu, khó mà lên án chúng nó được. Đây là cuộc chiến tranh khắc nghiệt đáng nguyền rủa mà chưa bao giờ chúng ta trải qua. Hầu hết chúng ta cứ việc càn qua, gặp gì bắn nấy. Nhưng ở đây chúng ta không xác định được mục tiêu. Không biết được ai là bạn, ai là thù.

Có một đêm, tôi đến thăm Trung tâm Điều khiển Hỏa lực của Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn 4, và được biết rằng tại căn cứ Đức Phổ này, Lữ đoàn có tới ba đại đội pháo binh với mười tám khẩu lựu pháo, và một đại đội với hai khẩu 8 inch (203,2 ly) và hai khẩu 175 ly. Đêm đó một thiếu tá trực ban cho tôi biết rằng có nhiều cách xác định mục tiêu. Bộ binh có thể yêu cầu nã pháo bất cứ khi nào, và các yêu cầu này được ưu tiên cao nhất. Nhưng cho đến nay, loại hỏa lực phổ biến nhất là hỏa lực quấy rối và đánh chặn (harassment and interdiction) viết tắt là hỏa lực “h và i”, mà viên thiếu tá miêu tả là “một loại hỏa lực tình báo”. Anh ta giải thích:

- Không cần thiết phải bắn phá một địa điểm suốt đêm, do đó chúng tôi chỉ bắn cầm canh. Thỉnh thoảng có xác định được một mục tiêu nào đó cho hỏa lực “h và i”, nhưng thông thường thì bộ binh chỉ xác định cho chúng tôi mỗi ô tọa độ mỗi chiều năm đến mười cây số. Có khi chúng tôi cùng một lúc được cung cấp các ô như vậy ở khắp mọi nơi trong huyện, trừ một số nơi dọc Quốc lộ 1

Dừng một lát, viên thiếu tá nói thêm:

- Chúng tôi không bao giờ bắn bừa bãi mà không quan sát. Chúng tôi có khả năng bắn một quả đạn pháo qua cửa sổ nhà anh nếu chúng tôi muốn. Nhưng tôi muốn anh biết là trước khi bắn chúng tôi đều xin ý kiến ông tỉnh trưởng.

Tôi hỏi anh ta quy trình xin ý kiến được thực hiện như thế nào. “Ông tỉnh trưởng đánh dấu những khu vực mà chúng tôi không được bắn phá nếu không được phép đặc biệt của ông ta”, anh ta trả lời, nói đến từ “tỉnh trưởng” với vẻ hết sức nghiêm nghị. Sau đó anh ta dẫn tôi đến xem bản đồ hai huyện Đức Phổ, Mộ Đức và hướng sự chú ý của tôi vào ba dải đất dọc theo Quốc lộ 1, mỗi dải rộng khoảng ba cây số, được khoanh lại bằng mực đỏ. Cả ba dải này cộng lại khoảng bốn mươi tư cây số vuông trong tổng số khoảng năm trăm cây số vuông diện tích vùng đất bằng phẳng đông dân nằm giữa bờ biển và dãy núi, thuộc hai huyện trong tầm bắn của pháo binh.

- Đây là điều thực sự quan trọng, là điều mà tôi muốn anh biết. - Viên thiếu tá nói. - Đây là khu vực cần bảo vệ thường dân Việt Nam đứng về phía ta. Trừ khi binh sĩ ta bị bắn, còn không thì chúng ta không được nã pháo vào ba dải đất nói trên nếu không được phép đặc biệt của ngài tỉnh trưởng người Việt.

Những đường tròn bằng mực đen trên bản đồ cho thấy vòng giới hạn của tầm bắn của từng đại đội pháo. Những vòng tròn này chồng lên nhau phủ kín toàn bộ khu vực dân cư, còn những chấm nhỏ màu xanh lá cây chỉ ra mục tiêu cho hỏa lực bắn quấy rối-đánh chặn thì lốm đốm khắp bản đồ trừ ba khu vực không được bắn. Có một số hình vuông rộng màu xanh lá cây, đó là những ô sẽ được hỏa lực quấy rối-đánh chặn bắn trùm lên trong mấy ngày tới. Có một ô hình chữ nhật màu đỏ, rộng khoảng hai cây số, dài khoảng bốn cây số, bao quát một khu vực gồm có ruộng lúa và làng mạc. Viên thiếu tá giải thích đây là khu “tự do bắn phá”. Phần lớn các sĩ quan đều xem các khu vực thường xuyên bị hỏa lực quấy rối-đánh chặn là “khu tự do bắn phá”. Nhưng tại trung tâm pháo binh này, vì hầu như toàn bộ vùng đông dân thuộc hai huyện đều bị hỏa lực quấy rối-đánh chặn bắn phá thường xuyên, nên sĩ quan binh lính ở trung tâm gần đây chỉ áp dụng cụm từ này cho một số ít khu vực cách biệt mà thôi. Theo định nghĩa mới, hẹp hơn, một vùng bắn quấy rối-đánh chặn có nghĩa là vùng có mục tiêu “hấp dẫn”, và vì vậy cần được bắn phá nhanh chóng với một lượng hỏa lực đặc biệt lớn.

Tôi đã từng ngồi trên một máy bay FAC để quan sát hỏa lực pháo binh và nhận thấy rằng những viên đạn đầu tiên thường rơi chệch mục tiêu khoảng hai, ba trăm mét. Tôi hỏi viên thiếu tá về điều này.

- Vâng. - Anh ta nói. - Những viên đạn đầu tiên thường chệch hướng hai, ba trăm mét nhưng sau đó người quan sát phía trước sẽ báo cho chúng tôi chệch bao nhiêu, và chúng tôi có thể điều chỉnh cho thật chính xác.

Tôi hỏi cự ly an toàn cho bộ binh thông thường là bao nhiêu.

- Một nghìn mét. - Anh ta trả lời. - Có những tình huống phải áp sát thì cự ly an toàn chỉ còn bốn trăm đến sáu trăm mét, những trường hợp như thế thật rởn tóc gáy. Đó quả thực là vùng nguy hiểm.

Một biểu đồ trên tường thống kê tám loại hỏa lực và số lượng các vụ bắn phá trong vòng ba tháng rưỡi kể từ khi Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn 4 đến Đức Phổ và Mộ Đức (mỗi vụ bắn trung bình 09 quả). Từ trên xuống dưới, biểu đồ thống kê như sau:

Loại hỏa lực Số vụ bắn phá

Bắn chỉnh 266

Bắn quấy rối và đánh chặn (h-i) 6.266

Bắn hủy diệt 7

Bắn chuẩn bị 30

Bắn tập kích 109

Bắn thử 66

Bắn tập trung phòng thủ 328

Các loại khác 44

Tôi đề nghị viên thiếu tá giải thích sự khác nhau giữa các loại hỏa lực.

- Hỏa lực bắn chỉnh nhằm kiểm tra độ chính xác của súng. Chúng tôi chọn một điểm có thể dễ dàng nhận ra cả trên bản đồ và từ mặt đất hoặc từ trên không. Rồi chúng tôi nhắm bắn, và khi chúng tôi thấy các viên đạn đi chệch mục tiêu bao xa, chúng tôi sẽ tính toán điều chỉnh lại thiết bị để bắn các quả đạn sau cho chính xác. Những nơi giao điểm của sông, suối là những mục tiêu tốt cho hỏa lực bắn chỉnh. Các giao lộ cũng vậy, nhưng thỉnh thoảng cũng gặp rắc rối khi xin bắn vào đó. - Anh ta cười. - Hỏa lực quấy rối-đánh chặn là loại hỏa lực có thể thực hiện khi bắt đầu bất kỳ vụ bắn phá nào và chúng tôi cũng phải kiểm tra tổng quát xem có an toàn không mới được bắn. Có nghĩa là phải kiểm tra xem có quân bạn ở quanh đó không.

Với từ “quân bạn”, anh ta muốn nói là quân Mỹ, Đại Hàn hay Việt Nam Cộng hòa. Anh ta nói tiếp:

- Hỏa lực hủy diệt là khi có ai đó nói “Tôi muốn hủy diệt cái hầm cố thủ kia”, “Đó là một mục tiêu đặc biệt trên mặt đất”. Có một số loại hỏa lực được xem là đánh trúng mục tiêu khi rơi cách tọa độ khoảng ba trăm mét. “Prep” là viết tắt của Hỏa lực chuẩn bị (Preparation fire). Nó nhằm bắn vào một bãi đổ bộ trước khi đổ quân xuống. Hỏa lực “TOT” có nghĩa là “Thời điểm cho Mục tiêu” (Time on Target). Nó là một loại tấn công bất ngờ bằng pháo binh. Chúng tôi tập trung hỏa lực của tất cả các đại đội pháo vào mục tiêu, vào một thời điểm, rồi cùng nhất loạt nổ súng. “WA” có nghĩa là “Sẽ Điều chỉnh” (Will Adjust). Với loại hỏa lực này, chúng tôi sẽ xác định hướng đi của nó, sau đó phái một quan sát viên phía trước, hoặc một người nào khác quan sát xem đạn rơi vào điểm nào, để báo cho đại đội biết đạn chệch mục tiêu bao xa.

Tôi hỏi viên thiếu tá xem liệu điều đó có phải là các loại hỏa lực khác thì cứ bắn mà không cần có quan sát? Viên thiếu tá trả lời:

- Khi tôi nói là mọi hỏa lực đều được quan sát, thì có nghĩa là luôn có một người quan sát mục tiêu đó vào một lúc nào đó trước khi bắn phá. Bắn tập trung phòng thủ là loại hỏa lực bắn quanh khu vực trú quân ban đêm của một đại đội. Trước hết chúng tôi bắn thử ít quả vào mục tiêu, và nếu đêm đó có vấn đề gì bất ổn thì pháo sẵn sàng nhả đạn vì đã được hiệu chỉnh.

Trong vòng ba tháng rưỡi kể từ khi Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn 4 đến đây, chỉ riêng các đại đội pháo ở Đức Phổ đã bắn tới 64.044 quả đạn pháo vào khu vực đồng bằng đông dân ở hai huyện Mộ Đức và Đức Phổ (con số này chưa tính tới số đạn pháo Hải quân bắn từ biển Đông hoặc số đạn do các đại đội pháo được phái đi theo bộ binh bắn yểm trợ trực tiếp trong hành quân). Một biểu đồ khác thống kê chỉ số “KIA” của quân đối phương (viết tắt của “Killed in Action” - bị hạ sát trong chiến đấu) và “WIA” (“Wounded in Action” - bị thương trong chiến đấu) được xem là thành tích của mỗi đại đội pháo. “Chúng tôi chỉ thống kê cho chúng tôi”, viên thiếu tá giải thích. “Trên thực tế chúng tôi không được ghi công trong thành tích tiêu diệt này mà bộ binh được hưởng hết”. Anh ta nói rằng loại đạn pháo thường được sử dụng nhiều nhất – loại đạn 105 ly – có thể sát hại bất cứ mục tiêu nào trong vòng bán kính ba mươi lăm mét trên mặt đất bằng phẳng không có chướng ngại vật, còn loại đạn lớn nhất – loại 8 inch (203,2 ly) – có thể sát hại mọi mục tiêu trong vòng bán kính bảy mươi lăm mét, cũng trong điều kiện đó.

Một bài báo trong số ra ngày 16 tháng 8 của tờ Screaming Eagle (Đại Bàng Gào Thét), tờ tuần báo của Lữ đoàn 1 thuộc Sư đoàn Cơ động Không vận 101, đã nêu ra việc tự do sử dụng pháo binh ở huyện Đức Phổ. Bài báo có đầu đề “Lực lượng Chân Đỏ bắn vào đối phương để làm lễ kỷ niệm” (“Chân Đỏ” là mật danh vô tuyến điện chỉ “Pháo binh”), nội dung bài báo như sau:

ĐỨC PHỔ - (theo sĩ quan thông tin của tiểu đoàn 2, trung đoàn 320) - Mới đây, buổi lễ đánh dấu lần bắn viên đạn thứ 250.000 lại trở thành một trận hỏa lực tác chiến của tiểu đoàn 2, trung đoàn 320 pháo binh.

Từ một đỉnh núi nhìn xuống thung lũng sông Vệ, đại đội pháo binh B đã sẵn sàng cho buổi lễ. Trung tá Andrew Bolcar đứng cạnh một khẩu pháo 105 ly, tay cầm dây giật. Bên cạnh là người cầm quân kỳ đứng nghiêm. Những lá cờ tung bay trong gió, lễ kỷ niệm sắp bắt đầu.

Bỗng có một bức điện của Trung tâm Điều khiển Hỏa lực: Đại đội B thuộc tiểu đoàn 2, trung đoàn bộ binh 327 đang chạm trán với quân địch, cần sự chi viện của pháo binh. Thế là mệnh lệnh được ban ra và pháo thủ vội vàng chỉnh lại thiết bị ngắm bắn. Trung tá Bolcar kéo dây giật và quả đạn thứ 250.000 được bắn ra về phía quân địch.

“Thật chẳng có cách nào tốt hơn để làm lễ kỷ niệm bằng cách bắn vào đối phương”, Bolcar nói.

Tờ Screaming Eagle không cho biết viên đạn thứ 250.000 định nhằm vào đâu trước khi có quyết định bắn vào quân địch.

Cũng trong đêm đó, để điều tra thêm về số phận của khoảng 52.000 dân vẫn còn sinh sống ở khu vực nằm trong tầm bắn của pháo binh ở Đức Phổ, tôi đến thăm đại úy Converse B. Smith – người phụ trách cơ quan dân sự của Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn 4. Đại úy Smith vốn là một cựu võ sĩ quyền Anh chuyên nghiệp, to cao, tóc vàng, nói với tôi rằng Lính thủy đánh bộ “đã tạo ra 10.000 người tỵ nạn” ở Đức Phổ trước khi Lữ đoàn 3 thuộc Sư đoàn 4 đến. Các cuộc hành quân của Lữ đoàn 3 lại làm cho con số đó phình lên đến 20.000. “Chúng tôi chưa thực hiện được cuộc tái định cư nào cả”, anh ta nói. “Huyện này không có đủ quân, chúng tôi chưa thể đảm bảo an ninh cho các khu vực.”

Tôi hỏi đại úy Smith là anh có hy vọng dân làng sẽ ủng hộ quân đội Mỹ không. Anh ta trả lời:

- Suy cho cùng vấn đề sẽ phải là thế này – dân làng phải tự quyết định, đứng về phía bên này hoặc phía bên kia. Chúng ta đến đây để ủng hộ chính phủ Nam Việt Nam mà bọn họ là công dân, nếu họ muốn chấm dứt cuộc chiến tranh và tiêu diệt Việt Cộng, thì bọn họ phải đi đến một quyết định. Họ có thể báo cho chúng ta biết khi nào Việt Cộng vào làng. Họ phải chấm dứt việc cung cấp lương thực cho Việt Cộng và việc cho Việt Cộng sử dụng thôn xóm của họ làm căn cứ. Nhưng rất nhiều người Việt có thái độ thờ ơ. Thật đáng tiếc, nhiều người ở cái xứ sở này có thái độ như vậy. Chúng ta cũng đang vấp phải vấn đề này ở ngay nước Mỹ. Chúng ta đang đổ máu ở đây, nhưng có nhiều người hình như không quan tâm.

Tôi hỏi đại úy Smith làm sao anh ta có thể hy vọng dân làng có thể báo tin tức về Việt Cộng khi mà chúng ta không thể bảo vệ cho họ, để họ tiếp tục được sống yên ổn trong làng.

- Chúng tôi có một hệ thống mật vụ. - Viên đại úy trả lời. - Chúng tôi có nhiều đầu mối liên lạc bí mật, Việt Cộng không biết về hệ thống đó. Và dân làng cũng có cơ hội để đến cư trú trong các khu do chính phủ kiểm soát nếu họ muốn. Việc đó tùy họ quyết định.

Chiến thuật thông dụng nhất của các cuộc hành quân quy mô lớn của Mỹ tại Quảng Ngãi là bất ngờ dùng trực thăng để vận chuyển binh lính đến từ mọi hướng, bao vây xung quanh nơi được chỉ điểm có đơn vị địch, khép chặt vòng vây và tiêu diệt. Vào cuối tháng 8, Lữ đoàn 1 của Sư đoàn Không vận 101 đã ba lần tại Quảng Ngãi và một lần khác tại Quảng Tín, tìm cách khép chặt một vòng thòng lọng như vậy đối với một lực lượng lớn quân địch. Lần đầu tiên là trong cuộc hành quân Malheur(*) I, sau đó là Malheur(*) II, đến Hood River, và cuối cùng là trong cuộc hành quân Benton tại Quảng Tín. Nhưng trong cả ba lần, vòng thòng lọng đều khép vào khoảng không và Lữ đoàn buộc phải đánh giá mức độ thành công của cuộc hành quân thông qua các cuộc giao tranh cỡ nhỏ thường xảy ra với số lượng đáng kể.

Tại các huyện Mộ Đức và Đức Phổ, Lữ đoàn 3 của Sư đoàn 4 đã giao chiến theo một nguyên tắc khác. Đáng lẽ phải tiến hành các cuộc càn quét lớn theo một kế hoạch chi tiết, Lữ đoàn này đã đồng thời tung ra nhiều đơn vị cỡ đại đội đến nhiều địa điểm khác nhau của vùng chiến sự, và tùy theo việc đánh giá tình hình hằng ngày ở từng khu vực nhỏ mà điều hành hoạt động. Trên các bản đồ giao ban, các mũi tiến quân của hàng nửa tá đơn vị cứ xoắn xuýt, xoay vần và chồng chéo lên nhau. Vào cuối tháng Tám, tất cả các đơn vị đã hành quân trong một vùng mà hầu hết làng mạc đã bị phá hủy, và phần lớn hoạt động của Mỹ chỉ còn là tìm kiếm quân đối phương đang nấp trong những mạng lưới địa đạo đan chen chằng chịt như tổ ong trong lòng đất.

Vùng này được nhận định còn khoảng 52.000 dân sinh sống và vì dân chúng sử dụng các hầm ngầm để ở và ẩn nấp nên khi bị ném bom, bị pháo binh oanh tạc hay hỏa lực bắn phá, họ biết ngay là sau đó sẽ có các cuộc hành quân của Mỹ. Khó khăn lớn nhất mà Lữ đoàn 3 của Sư đoàn 4 gặp phải khi tiến hành cuộc chiến trong địa đạo là phải phân biệt được ai thực sự là Việt Cộng và ai là thường dân. Hơn nữa, việc tấn công trả đũa vào các làng mạc đã làm cho một số dân chúng già, trẻ, gái, trai buộc phải đứng lên cầm vũ khí chống lại quân đội Mỹ. Nhiều người Việt Nam sẵn sàng xả thân trong các cuộc chiến đấu chống lại người Mỹ chúng ta, cho dù họ biết như thế là vô vọng và không thể chiến thắng được. Các cuộc chống cự đó hầu như chỉ là do lòng căm thù. Tôi đã từng nghe một sĩ quan nói anh ta không thể nào tưởng tượng được có hai ông già dám xông thẳng vào một đoàn xe tăng chỉ với súng trường trên tay. Anh ta nói thêm: “Đó là lúc tôi không còn ngần ngại gì nữa và thấy cần phải bắn hai ông già”. Một người lính Mỹ khác nói với tôi rằng anh ta phát hiện thấy có một bà già tìm cách dùng khẩu súng máy bắn vào đơn vị anh ta nhưng không bắn được, trong khi có hai đứa trẻ đang tìm cách luồn băng đạn vào hộp súng. Trong các thung lũng tại vùng núi, có nhiều trường hợp dân chúng tấn công lính Mỹ bằng cả cung tên.

Về dân chúng nói chung, một sĩ quan kể lại rằng:

- Chúng tôi vấp phải rất nhiều khó khăn khi muốn xua dân chúng ra khỏi hầm ngầm. Chúng tôi thường dùng loa kêu gọi họ chui ra ngoài, nhưng họ không chịu. Do đó, đôi khi chúng tôi phải phun hơi cay làm chảy nước mắt và dùng mìn nổ tung hầm. Tôi nhớ có một lần trong hầm còn nhiều người trốn nấp và chúng tôi đưa hai lính chiêu hồi đi trước những “con chuột cống hầm ngầm”(*) của ta. Khi họ vừa xuống được khoảng 2 tầng đã bị các tay súng trong hầm bắn lên. Họ quay ra khỏi hầm và chúng tôi lại dùng loa để kêu gọi, nhưng hễ cho ai xuống hầm đều không thấy lên nữa. Chúng tôi buộc phải làm nổ tung đến nửa sườn đồi.

Sau khi nghe xong câu chuyện này, một sĩ quan khác cúi xuống bàn và nói nhanh:

- Tất nhiên chúng tôi biết ở dưới đấy còn nhiều tên Việt Cộng sừng sỏ đang sống lẫn với dân chúng.

Viên sĩ quan thứ nhất tiếp tục:

- Thông thường, một Việt Cộng địa phương được trang bị một quả lựu đạn. Có lần chúng tôi gọi loa vào một hầm ngầm và một quả lựu đạn từ trong hầm vụt bay ra, giết chết một lính Mỹ. Rồi một thằng bé con độ 14 tuổi phóng nhanh ra ngoài, bị chúng ta bắn chết. Thằng bé chỉ có đúng một quả lựu đạn. Nhưng tôi cho rằng nó đã hoàn thành nhiệm vụ vì đã giết được một lính Mỹ.

Tuần báo Screaming Eagle thường đăng các câu chuyện chiến đấu kịch tính nhất. Số ra ngày 30 tháng 8 đã tường thuật lại một câu chuyện giao chiến trong hầm ngầm của Lữ đoàn 1 Sư đoàn 101 trong thời gian đơn vị này đang tiến hành cuộc hành quân Malheur I. Dưới đầu đề “Việt Cộng, Mỹ, Việt Cộng”, bài báo viết:

Lính dù Sư đoàn 101 Cơ động Không vận đã quả cảm chống lại sự kháng cự của Cộng sản suốt cả ngày dài và cuối cùng đã thu được thành quả. Lính kỹ thuật bậc 4 là Donald R. Kinton, quê ở Kreole, bang Mississippi tiến vào địa đạo và chỉ mười lăm phút sau đã bắt đầu phá rộng miệng hầm ngầm.

Khi miệng hầm đã được phá rộng, Kinton cầm một bó đuốc chui vào trong.

Thấy một Việt Cộng đang sắp kéo chốt quả lựu đạn, Kinton vội ném thẳng bó đuốc đang cháy vào mặt hắn và nhanh chóng chui ra khỏi hầm.

Quả lựu đạn bị thối, không nổ.

Tức giận kẻ thù ngoan cố, các lính dù ném nhiều lựu đạn vào trong cửa hầm.

Khi khói và bụi đã tan, một Việt Cộng bò ra đầu hàng.

...

Binh nhất Vito Legari, quê ở West Islip, Long Island, bang New York quyết định chui vào hầm để xem tình hình. Một viên đạn từ trong hầm bắn vọt ra, bay xoẹt ngang đầu.

Các lính dù chui ra khỏi hầm để nghĩ cách khác. Trung đội 3 tham gia ý kiến, đề ra chiến thuật mà họ hy vọng sẽ buộc được kẻ địch ngoan cố phải đầu hàng.

Lính Mỹ cho nổ một quả mìn Clây-mo, một loại mìn định hướng dồn tất cả các mảnh sát thương vào trong cửa hầm.

Việt Cộng trong hầm ném trả một lựu đạn ra ngoài.

Lại thêm một quả lựu đạn tịt ngòi.

Tù binh Việt Cộng vừa bị bắt được đưa đến cửa hầm để thuyết phục đồng đội ra đầu hàng.

Chẳng có kết quả gì.

Trung sĩ James A. Ross, quê ở Canton, bang Ohio ném thêm một quả lựu đạn vào trong hầm và một lần nữa đưa tên Việt Cộng bị bắt đến cửa hầm để thuyết phục các đồng đội của anh ta ra đầu hàng.

Một Việt Cộng dao động bò ra hàng, mang theo hai vũ khí. Hắn cho biết trong hầm chỉ còn lại một Việt Cộng còn sống và hai người đã chết.

Rõ ràng, việc chỉ còn lại một Việt Cộng mà vẫn còn ngoan cố đến như vậy là điều quá sức chịu đựng đối với Phạm Minh Công, thông dịch của Đại đội A.

Công tức giận vứt chiếc mũ sắt xuống đất, chui vào hầm và lôi một Việt Cộng cuối cùng ra khỏi hầm bằng cách nắm hai chân hắn kéo ra.

Như vậy là phải mất gần cả một ngày lính Mỹ chỉ bắt được có ba tù binh, nhưng kết quả cũng đáng công sức. Trung đội Mỹ đã bắt được một viên chỉ huy Việt Cộng của vùng và một cán bộ trợ lý, 30kg tài liệu, 300kg gạo, một chiếc máy chữ và các loại thuốc men.

Trong các cuộc trò chuyện cũng như trong các bản tin trên tờ Screaming Eagle, tôi thấy bộc lộ rất ít sự căm thù đối với kẻ địch. Ngược lại, tôi được nghe họ nói những lời khâm phục Việt Cộng, nhất là khi so sánh với quân đội Sài Gòn mà người Mỹ chúng ta đang ủng hộ và cùng chiến đấu.

Hầu hết lính Mỹ tôi gặp ở Việt Nam nói chung đều ủng hộ cuộc chiến tranh nhưng tôi cũng có gặp một số người còn tỏ ý hoài nghi. Vào một đêm cuối tháng Tám, tại căn cứ Đức Phổ, tôi đi theo một nhóm gồm bốn lính quân dịch vào trong một chiếc lán nhỏ để tránh một trận mưa nặng hạt kéo dài suốt ngày và đã biến căn cứ này thành một vũng lầy. Cả nhóm tranh luận sôi nổi về chiến tranh. Có hai người cảm thấy bị chiến tranh làm đảo lộn sâu sắc tinh thần, một người tỏ ý nghi ngờ một vài khía cạnh của cuộc chiến và người còn lại thì nhiệt tình ủng hộ cuộc chiến. Cuộc trao đổi chủ yếu tiếp tục giữa hai chàng trai mà tinh thần đang bị đảo lộn sâu sắc – tôi sẽ gọi họ là Brandt và Sproul. Tôi gọi anh chàng nhiệt tình ủng hộ cuộc chiến là Dehlinger – người đang lau khẩu súng ngắn, thỉnh thoảng mới ngước nhìn lên và nói chen vào đôi lời nhận xét. Anh chàng thứ tư tôi gọi là Jackson, thì tương đối ít nói.

- Khi tôi đến đây, có vài làng đã bị quét sạch nhưng cũng còn lại nhiều làng, - Brandt, một binh nhì quê ở California nói. - Dần dần sau đó, mỗi khi tôi ra ngoài, tôi lại thấy số làng ngày càng giảm đi và cho đến nay toàn bộ khu vực đã bị quét sạch như ta thấy bây giờ. Lính Mỹ được hỗ trợ để chiếm được lòng tin của dân chúng, nhưng chẳng có ai dạy họ một mảy may nào về chuyện đó. Tôi đã qua đợt huấn luyện hẳn hoi, tôi đã học tháo lắp súng, học xạ kích, nhưng chẳng có ai dạy tôi phải biết thương yêu một dân tộc mà hình dáng của họ khác với chúng ta và xu hướng chính trị cũng khác ta đến một trăm tám mươi độ. Chúng tôi không hiểu được những người dân ở đây đang suy nghĩ gì. Khi đến đây, chúng tôi như đổ bộ lên một hành tinh xa lạ. Tôi nghĩ là tại nước Đức hay Nhật, chúng tôi vẫn có một sợi dây liên lạc nào đó, nhưng tại đây, ngay cả khi gặp một anh chàng người Việt nói tiếng Anh rất lưu loát, chúng tôi cũng chẳng biết anh ta đang nói cái quái gì.

- Chẳng ai có sự cảm thông đối với người Việt Nam. - Sproul, một binh nhì quê ở Texas nói. - Họ bị vứt bỏ. Chẳng có ai trong người Mỹ chúng ta coi người Việt Nam là con người. Họ không phải là con người. Do đó, anh có làm gì đối với họ thì cũng chẳng thành vấn đề gì cả.

- Chúng tôi tiến hành hỏi cung kẻ bị bắt ngay tại trận và nếu họ không chịu khai báo, thế là xong! - Brandt nói. - Tù binh của chúng tôi thường chỉ là những người dân bị gom được trong các làng xóm mà chúng tôi đã càn quét và không cho một ai được ở lại. Nhưng vì trong các trại tỵ nạn không có đủ phương tiện để cho dân chúng sinh sống nên họ lại quay trở về làng cũ, và thế là mặc nhiên họ bị coi là V.C. Và chúng ta xem họ là kẻ thù.

- Những Việt Cộng này thường rất khó bị khuất phục. - Sproul nói. - Có một lần tôi thấy một trung sĩ rất độc ác treo ngược một Việt Cộng vào càng trực thăng, đầu lộn xuống đất và cứ như vậy lủng lẳng trên không và lắc lư trên cánh đồng lúa ở độ cao hơn 900 mét… Một lần khác, tôi thấy lính Mỹ dồn một toán Việt Cộng lên một chiếc trực thăng. Trước tiên, họ đẩy một Việt Cộng ra khỏi chiếc máy bay cho rơi xuống đất và đe dọa những người khác là nếu ai không chịu khai báo thì cũng sẽ đi theo người kia. Thế là họ đã phải khai.

Tôi hỏi Sproul anh ta sẽ nói gì với dân chúng về chiến tranh sau khi về Mỹ.

- Có thể khi về Mỹ, tôi sẽ tự co mình lại và không hề hé răng. - Anh ta trả lời. - Sự việc ở đây tàn bạo quá mức nên sẽ chẳng có ai tin lời tôi nói đâu. Và tôi cũng không muốn chết vì bực bội nếu phải cố tìm mọi cách làm cho họ tin những điều tôi nói.

(Câu nhận xét “Người ở bên nước mình sẽ không ai tin lời kể của chúng tôi đâu” là câu mà tôi nghe hầu như hằng ngày tại Quảng Ngãi từ miệng những kẻ ủng hộ chiến tranh cũng như người chống lại cuộc chiến. Lúc ở căn cứ Chu Lai, có lần người lái xe Jeep đang chở tôi đi - người lái xe này cũng là một lính Mỹ đã tham gia chiến đấu - đột nhiên quay đầu lại và nói với tôi:

- Ông sẽ không tin vào những chuyện đang xảy ra trong cuộc chiến tranh này đâu.

- Những chuyện gì vậy? - Tôi hỏi lại.

- Ông sẽ không tin vào những chuyện đã xảy ra đâu. - Anh ta khẳng định lại một lần nữa.

- Đó là những loại chuyện gì vậy? - Tôi lại hỏi tiếp.

- Vì ông cũng sẽ không tin có những chuyện đó, nên tôi nói với ông làm gì. - Anh ta trả lời, đầu lắc mạnh để biểu thị quyết tâm sẽ không nói cho tôi biết. - Sẽ chẳng có ai muốn tìm hiểu cho rõ những chuyện đã xảy ra; và sau khi cuộc chiến tranh này kết thúc, tất cả chúng tôi sẽ về Mỹ, và sẽ chẳng có ai biết được những chuyện đó nữa.

Tôi đã không thể thuyết phục được người lái xe nói cho rõ thêm điều anh ta đã đề cập.)

Đáp lại những điều Sproul nói, Jackson, chàng trai quê ở Georgia cất tiếng:

- Tôi biết. Tôi đã nhìn thấy mọi điều. Tôi đã thấy lính Mỹ khi ra trận đã giận dữ đánh đập dân chúng – cả đàn bà và tất cả mọi người khác – nhưng tôi chỉ quay đi. Tôi biết thế là sai nhưng tôi không nói gì hết.

Câu chuyện trong chiếc lán nhỏ chuyển sang vấn đề chúng ta có nên sang Việt Nam hay không. Sproul cho rằng chúng ta không nên. Brandt thì chẳng thích thú gì với cuộc chiến tranh này nhưng lại lo lắng có thể lại phải tham chiến ở một nơi khác nếu không chiến đấu trong cuộc chiến này. Còn Jackson lại cho rằng Mỹ phải ném bom nguyên tử vào Bắc Việt và cả Trung Quốc nữa nếu thấy cần thiết chứ không phải chỉ tiếp tục cuộc chiến vô vọng như thế này tại miền Nam Việt Nam.

Khi nhắc đến Trung Cộng, Dehlinger ngẩng đầu lên nói:

- Một tên Trung Cộng vừa bị giết tại Kon Tum.

- Làm thế nào mà anh biết đó là một tên Trung Cộng? - Brandt hỏi.

- Họ nói như vậy, dựa vào hình dáng. Bất cứ lão già người Hoa nào cũng từ Trung Quốc sang đây, có phải vậy không? - Dehlinger trả lời và nói tiếp. - Tôi đã nhìn thấy khoảng bốn mươi tên địch bị giết ngay tại bãi chiến trường và tôi muốn xuống ngay đấy và diệt thêm vài tên nữa.

Cả bốn lính Mỹ cười chế nhạo việc bày tỏ sự cương quyết một cách đột ngột này.

Vài phút sau Brandt nói:

- Hôm qua tôi ngồi trên trực thăng cấp cứu. Có ba thường dân bị bắn trọng thương. Họ gồm một thằng nhỏ và hai phụ nữ. Trong số này, có một bà trông thê thảm lắm. Bà có ba bốn vết thương nặng đã được băng bó. Nhưng lính Mỹ đã ném bà vào trong trực thăng như ném một khúc gỗ vậy. Trên trần chiếc trực thăng lúc đó treo lủng lẳng một dây băng với một chiếc khóa, và chiếc khóa này đã đập vào mặt người đàn bà này khi bà bị hất vào. Đáng lẽ lúc đó, lính Mỹ phải đẩy cái khóa sang một bên rồi mới đưa bà vào mới phải. Và khi bị xô vào khoang trực thăng, chiếc chăn đắp trên người bị tung ra, người bà gần như trần truồng. Đáng lẽ lính Mỹ phải kéo chăn đắp lại cho bà ấy. Nhưng họ không hề. Tôi nhớ lại có một lần tôi đi trượt tuyết bị gãy chân. Quả thật đau đớn lắm! Tôi nhớ có một người đến tháo chiếc ủng của tôi ra, anh ta rất cẩn thận, không hề làm tôi đau thêm. Và tôi cứ nhớ mãi điều đó. Trong lúc đau đớn, người ta sẽ ghi nhớ sâu sắc lòng tốt của người khác. Cũng giống như khi có ai làm điều tốt cho anh khi mẹ anh qua đời vậy. Anh sẽ ghi lòng tạc dạ lòng tốt đó. Họ đã rải xuống hàng triệu tờ truyền đơn để tuyên truyền nhưng họ lại chẳng hề đắp lại chiếc chăn.

JONATHAN SCHELL
Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0
Bình luận (0)
thông tin tài khoản
Được quan tâm nhất Mới nhất Tặng sao cho thành viên

    Tuổi Trẻ Online Newsletters

    Đăng ký ngay để nhận gói tin tức mới

    Tuổi Trẻ Online sẽ gởi đến bạn những tin tức nổi bật nhất