![]() |
– Dale Carnegie
Chúng ta đã bước vào thế kỷ XXI, thế giới đang trải qua một sự thay đổi lớn lao, một chuỗi những bước ngoặt và triển vọng to lớn xuất hiện. Chỉ trong một vài năm ngắn ngủi, chúng ta đã chứng kiến buổi đầu của thời kỳ hậu công nghiệp hóa với sự xuất hiện của kỷ nguyên truyền thông, bước đột phá của ngành công nghệ thông tin, ngành công nghệ sinh học. Và không hề thua kém những thay đổi ấy là cuộc cách mạng trong mối quan hệ giữa người với người.
Với sự kết thúc của cuộc chiến tranh lạnh, môi trường kinh doanh phát triển một cách đáng kể và ngày càng mãnh liệt hơn. Cạnh tranh mang tính toàn cầu và năng động hơn. Công nghệ cũng tham gia vào cuộc đua này. Doanh nhân không còn bình thản làm ngơ trước những nhu cầu của khách hàng. Những nhà quản lý không còn đơn thuần đưa ra những mệnh lệnh và trông đợi nhân viên làm theo một cách máy móc. Những mối quan hệ cá nhân không còn được xem là một điều hiển nhiên. Các công ty không còn tỏ ra thờ ơ trước việc phải cải thiện chất lượng thường xuyên. Óc sáng tạo của con người sẽ không còn dễ dàng bị bỏ như trước nữa.
Để tồn tại trong những năm tới đây, một tổ chức muốn thành công – kể cả tổ chức kinh doanh, tổ chức chính phủ hay tổ chức phi lợi nhuận – đều cần phải trải qua một sự thay đổi triệt để về văn hóa. Các thành viên của tổ chức phải động não nhanh hơn, làm việc nhạy bén hơn, có những ước mơ táo bạo hơn và phải gắn kết chặt chẽ với nhau hơn trong công việc.
Quan trọng nhất là sự thay đổi văn hóa này sẽ đòi hỏi một kiểu lãnh đạo mới, một kiểu lãnh đạo không giống như những sếp cũ của các bạn, hay chính một vài người trong số các bạn. Thời kỳ mà một công ty có thể hoạt động với “một cái roi da và một cái ghế” đã qua rồi.
Những nhà lãnh đạo tương lai phải xây dựng một viễn cảnh thực tế và những giá trị xứng đáng cho tổ chức mà họ muốn dẫn dắt. Họ phải giao tiếp và có khả năng tạo động lực cho nhân viên hiệu quả hơn những gì mà các nhà lãnh đạo trong quá khứ đã làm. Họ phải trở nên nhạy bén trước những thay đổi liên tục trong điều kiện hiện nay. Những nhà lãnh đạo kiểu này sẽ phải khai thác tối đa tài năng và khả năng sáng tạo mà tổ chức của họ sở hữu – từ nhân viên cho đến những người ở vị trí cao.
Nguồn gốc của tất cả những biến đổi này có thể tìm thấy ở những thập niên sau chiến tranh thế giới thứ hai. Trong những năm sau chiến tranh, những công ty của Mỹ dường như thành công trong tất cả những công việc họ đã làm. Nền kinh tế của châu Âu và châu Á gặp khó khăn do sự tàn phá của chiến tranh, những nước đang phát triển thì lại không có nhiều điều kiện để phát triển kinh tế. Những công ty của Mỹ đã có được một lượng lao động khổng lồ và một chính phủ uy quyền ủng hộ và họ lập ra những tiêu chuẩn cho mọi người. Đó không phải là một cách vận hành hiệu quả. Họ không bao giờ đạt được điều đó. Với những thứ bậc trên dưới trong tổ chức, với sự đòi hỏi cứng nhắc và thái độ chúng-tôi-luôn-biết-cái-tốt-nhất, họ cứ “tà tà” vận hành tổ chức của họ trong những năm giữa thế kỷ, mà vẫn phát đạt, hạnh phúc và đầy lợi nhuận.
Những “cái kén” xinh đẹp mà các công ty này đem lại cho nhân viên của họ mới tuyệt làm sao! Một công việc trong một tập đoàn danh tiếng đối với nhiều người là một công việc hết sức đáng giá – tuy không khác gì mấy so với ngành dịch vụ công cộng, nhưng với tiền lương khá hơn và những bổng lộc “ngọt ngào” hơn kèm theo.
Sa thải trong công việc? Bạn có bao giờ nghe về những vụ sa thải đối với những người làm văn phòng và quản lý – “những người mặc áo vét tông hay mặc váy khi đi làm” chưa? Công nhân nhà máy có thể bị sa thải, nhưng ban quản lý thì chắc chắn là không rồi. Người ta thường nói về những “nấc thang thành công” và đó là cách mà họ thăng tiến trên con đường sự nghiệp của mình, một khi đã bước lên, không chậm hơn và không nhanh hơn những người ở trên hay ở dưới bạn. Khi nhìn lại, chúng ta thấy rằng đó là khoảng thời gian việc kiếm tiền thật dễ dàng nhưng cuối cùng, nó cũng đã phải kết thúc.
Khi nước Mỹ đang tận hưởng những trái ngọt của năm tháng hậu chiến tranh, thì người Nhật suy nghĩ về tương lai của họ. Nền kinh tế bị phá hủy, cơ sở hạ tầng của họ bị đổ nát và đó chỉ là sự khởi đầu của những gì mà người Nhật phải vượt qua. Họ cũng có tiếng trên thế giới về việc sản xuất những mặt hàng thứ phẩm giá rẻ và cung cấp những dịch vụ cho khách hạng hai.
Nhưng sau những gian khổ mà họ đã gánh chịu, người Nhật sẵn sàng học tập từ những thất bại. Họ ra ngoài và thuê những chuyên gia tư vấn mà họ có thể tìm được, một trong số đó là tiến sĩ W. Edwards Deming, nhà thống kê đã làm việc cho Văn phòng quản lý chất lượng của quân đội Mỹ trong suốt chiến tranh.
Những lời khuyên của Deming dành cho người Nhật là: Đừng cố gắng bắt chước cấu trúc phức tạp của những tập đoàn lớn của Mỹ, mà thay vào đó là hãy xây dựng một công ty kiểu mới của Nhật – một công ty có khả năng thu hút nhân viên, cải thiện chất lượng, đem lại sự hài lòng cho khách hàng – và tạo nên sự gắn bó, đoàn kết giữa các nhân viên đằng sau những mục tiêu trên.
Điều này không thể diễn ra trong một đêm, nhưng nền kinh tế Nhật Bản đã được tái sinh. Nhật Bản trở thành nước đi đầu trong việc đổi mới công nghệ, chất lượng sản phẩm, còn dịch vụ thì nhảy vọt. Với một tinh thần vừa được khơi dậy, các công ty Nhật Bản không chỉ đuổi kịp các công ty nước ngoài. Trong nhiều ngành công nghiệp chủ chốt, các doanh nghiệp Nhật Bản đã vượt xa quá khứ của họ. Không lâu sau, cách thức của người Nhật Bản lan rộng khắp thế giới – từ Đức, Scandinavia cho tới miền Viễn Đông và vành đai Thái Bình Dương. Thật tiếc là Hoa Kỳ lại là nước cuối cùng phổ biến cách thức này. Chính sự trì hoãn này đã phải trả một cái giá rất đắt.
Chậm rãi và khó mà nhận thấy lúc ban đầu, những chiếc du thuyền sang trọng của Mỹ đang từ từ mất giá. Trong suốt những thập niên 60 và 70, tiếng gầm của nền kinh tế thời hậu chiến vẫn còn đủ lớn để nhận chìm những cơ hội mong manh, nhưng những dấu hiệu của các rắc rối thì vẫn tiếp tục gia tăng đến mức khó có thể làm ngơ được.
Dầu trở nên đắt đỏ. Lạm phát và lợi tức tăng cao. Cạnh tranh không còn đến từ những nước hồi sinh như Nhật Bản và Đức nữa. Hàng chục quốc gia khác, những đốm sáng nhỏ trên bức tranh kinh tế đã chinh phục được các lĩnh vực công nghệ với những kỹ thuật mới, sắc bén và đầy tính cạnh tranh. Rất nhanh chóng, các quốc gia này đã kiểm soát phần lớn thị phần từ General Motors, Zenith, IBM, Kodak và từ những siêu tập đoàn đang ngủ say khác
Cho tới giữa thập niên 80, việc kìm hãm những rắc rối ngày càng trở nên khó khăn. Kinh doanh bất động sản bị giảm mạnh. Nợ kinh doanh và thâm hụt quốc gia tăng lên mạnh mẽ. Thị trường chứng khoán trở nên khác thường. Sự suy thoái kéo dài, đặc biệt là vào những năm đầu 1990, một lần nữa đã cho thấy phát triển không đồng đều giữa các quốc gia.
Đối với những người bị kẹt lại ở giữa, những thay đổi trên dường như diễn ra với tốc độ quá chóng mặt. Đối với những công ty không liên hợp hay không có được sự thu hút nào, họ buộc phải cải tổ lại hoặc là phải tuyên bố phá sản. Đuổi việc, giảm biên chế, những thay đổi đó thật khắc nghiệt. Mọi chuyện diễn ra nhanh chóng. Và không còn chỗ cho lao động chân tay. Các quản lý và chuyên viên sẽ phải đối mặt với nhau trong một tương lai nhỏ hẹp và họ không chắc là sẽ phải làm những gì tiếp theo.
Có thể dự đoán được rằng sự thay đổi về quy mô và tốc độ sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức của mọi người về bản thân và nghề nghiệp của mình. Bất kỳ thay đổi nào của nền kinh tế cũng sẽ dẫn tới một làn sóng sợ hãi và bất mãn chưa từng thấy.
Nhiều người đặt niềm tin vào công nghệ. Họ đã khám phá ra rằng thế giới có thể đơn giản tạo ra con đường riêng của nó. Và không thể phủ nhận những đóng góp mà công nghệ đã đem lại.
Thomas A.Saunders III, người đồng sáng lập Saunders Karp & Company – một ngân hàng tư nhân – nói: “Tôi có thể đến văn phòng của mình tại New York và dùng chính xác những thông tin mà một người nào đó ở Nhật Bản đang sử dụng – tại cùng một thời điểm. Chúng tôi tiếp cận với hệ thống dữ liệu giống nhau hai mươi bốn giờ mỗi ngày. Mọi người trên khắp thế giới được liên kết với nhau thông qua một mạng lưới vô cùng tinh vi, hơn cả những gì mà mọi người có thể hình dung ra. Thị trường vốn và thị trường tiền tệ nằm ngoài sự kiểm soát của chính phủ. Và tôi không cần một tờ báo để biết thêm điều gì đó về những thị trường đó”.
Tiến sĩ Jonas Salk, một nhà nghiên cứu dược phẩm tài năng nhận xét: “Cái chúng ta thấy chính là những lợi ích của một sự ‘tiến hóa’ trong công việc, tiềm năng được nâng cao đến mức nhiều công việc có thể được hoàn thành trong thời gian ngắn. Chúng ta có thể cộng tác với nhiều người ở những nơi rất xa, do đó so với cách đây một trăm năm thì hiện nay rất nhiều công việc đã trở nên có thể thực hiện được. Bạn càng có nhiều nguồn lực thì càng có nhiều phương tiện mà bạn phải phát triển để sử dụng những nguồn lực đó.”
Malcolm S. Forbes, Jr., tổng biên tập của tạp chí kinh doanh Forbes đã nói: “Bạn có còn nhớ lần đầu tiên khi máy vi tính xuất hiện không? Họ sợ thiết bị này sẽ trở thành một công cụ giám sát. Họ sợ tivi sẽ là một công cụ để tuyên truyền. Nhưng thật cảm ơn công nghệ cao, chúng đã có hiệu quả ngược lại. Máy tính ngày nay trở nên nhỏ hơn rất nhiều so với các máy tính cỡ lớn ngày xưa. Ngày nay, nguồn điện cũng được nâng lên đáng kể, do đó bạn không còn phải chịu cảnh ‘trói tay trói chân’ không làm được gì nữa.
“Những con chip siêu nhỏ đã đưa trí tuệ con người lên một tầm cao mới – những cỗ máy đã có thể nâng cao khả năng cơ bắp của con người. Ngày nay, các phần mềm như những thanh thép. Những sợi cáp quang và màn hình số trở thành đường sắt và đường cao tốc cho việc truyền dẫn số liệu. Thông tin thì trở thành một nguyên liệu thô”.
Forbes tiếp tục: “Bây giờ, bạn có thể truyền thông điệp của mình và với chiếc laptop nặng hai cân, bạn có thể làm việc tại bất kỳ đâu mà bạn tìm thấy lỗ cắm hay tín hiệu vệ tinh”. Kết quả là gì? Nhiều người có thể tiếp cận với nhiều thông tin hơn. Forbes kết luận: “Mọi người có thể thấy những gì đang diễn ra trên phần còn lại của thế giới. Nó ảnh hưởng tới tất cả mọi người”.
Sự sụp đổ của Bức tường Berlin, sự tan rã của Liên bang Xô Viết, sự nổi lên của Trung Hoa, sự đấu tranh cho nền dân chủ tại Châu Mỹ Latinh và vùng Caribê, tiến trình công nghiệp hóa tại các nước đang phát triển – tất cả những sự thay đổi này đánh dấu một nền công nghiệp tự do và một sự nhận thức mới rằng cả thế giới là một cộng đồng. Mỗi thay đổi đều được thúc đẩy bằng những phương thức rộng mở để đến với công nghệ thông tin.
Những hình ảnh tiêu biểu cho sự thay đổi này giờ đây có thể bắt gặp tại khắp mọi nơi trên thế giới. Các học sinh Trung Quốc giương cao những biểu ngữ viết bằng tiếng Anh trước các ống kính quay phim. Saddam Hussein và Tổng tham mưu trưởng quân đội Mỹ cùng theo dõi những tiến triển của chiến tranh vùng Vịnh trên CNN.
Nhưng công nghệ thôi thì vẫn chưa đủ cho những khoảng thời gian khó khăn. Phương tiện giao tiếp có sẵn nhưng không có nghĩa là con người đã học được cách giao tiếp tốt. Đặc biệt trong xã hội ngày nay thì điều này lại càng chính xác. Đó là một trong những điều trớ trêu của xã hội hiện đại: khả năng giao tiếp càng nhiều thì thất bại trong giao tiếp càng cao. Thông tin tốt để làm gì khi con người ta không biết cách chia sẻ nó?
Cách đây không lâu, bộ phận cao học về thương mại tại Đại học Harvard tổ chức một cuộc khảo sát với các sinh viên, cựu sinh viên và những tân sinh viên. Chủ đề của cuộc khảo sát là đưa ra những yêu cầu cần thiết cho việc giao tiếp ngày nay và kết quả cũng không bất ngờ cho mấy. Giáo sư ngành thương mại, John A.Quelch của trường Đại học Harvard cho biết: “Cái mà chúng tôi đang tìm kiếm là một thước đo cho sự thỏa mãn về khả năng chuyên môn của những sinh viên đã tốt nghiệp”.
Những học viên thông minh có thể xử lý các con số, phân tích thị trường, đề ra kế hoạch kinh doanh, nhưng khi đề cập tới việc giảng dạy kỹ năng ứng xử giữa người với người, Harvard đang phải nỗ lực từng bước một. Quelch nói: “Đây dường như là một lĩnh vực cần phải được cải thiện: các kỹ năng nói, viết, hoạt động theo nhóm và những kỹ năng khác của con người”.
Tuy nhiên, đó chính xác là những kỹ năng sẽ đem tới thành công cho những nhà lãnh đạo trẻ tuổi.
Điều chắc chắn là khoa học kỹ thuật vẫn sẽ đóng một vai trò quan trọng trong cuộc đua vẫn đang tiếp diễn của thế giới. Nhưng nó chỉ là chiếc vé để được tham gia vào cuộc đua đó. Cuối cùng, sự phân định giữa người thắng kẻ bại không phải là lượng byte hay RAM có được. Người chiến thắng là những tổ chức cùng với các nhà lãnh đạo thông minh và sáng tạo, những người biết cách giao tiếp và thúc đẩy con người một cách hiệu quả – cả trong lẫn ngoài tổ chức.
John Rampey, giám đốc phát triển quản lý của Milliken & Company, nhà sản xuất dệt may hàng đầu, đã nói: “Kỹ năng giỏi trong quan hệ con người có khả năng chuyển quản lý thành lãnh đạo”. Con người có thể học cách chuyển đổi “từ chỉ đạo sang hướng dẫn, từ đối đầu sang hợp tác, từ làm việc trong môi trường bảo mật sang môi trường chia sẻ thông tin khi cần thiết, từ thụ động sang chủ động mạo hiểm và từ quan điểm con người là hao phí sang quan điểm con người là tài sản”. Họ có thể học cách “chuyển cuộc sống từ thù hận sang hạnh phúc, từ hờ hững sang tận tâm và từ thất bại sang thành công”.
Không ai nói những kỹ năng này có thể đến một cách tự nhiên cả. Burt Manning, chủ tịch công ty J. Walter Thompson, hãng quảng cáo nổi tiếng thế giới đã phát biểu: “Không dễ dàng để có được đẳng cấp cao trong quan hệ con người. Chỉ rất ít người có thể làm điều này theo bản năng. Phần lớn mọi người đều phải học mới có được. Điều này cần nhiều rèn luyện – và cũng cần nhiều sự tinh vi – như việc trở thành kỹ sư trong một công ty xe hơi hay việc cải tiến một pít-tông xe vậy”.
Manning nói: “Những công ty có thể tạo ra lực lượng nòng cốt gồm những người có khả năng thúc đẩy sự nghiệp của công ty thì sẽ nhanh chóng vượt lên trước. Đó chính là những công ty hiểu được rằng dịch vụ và quan hệ con người sẽ trở thành thứ quyết định thành bại trong tương lai”.
Dale Carnegie đã không sống đủ lâu để chứng kiến sự kết thúc của những ngày mà thành công đến quá dễ dàng và thay vào đó là những biến đổi mạnh mẽ. Ông cũng không được chứng kiến sự xuất hiện của cuộc cách mạng mới trong quan hệ con người. Nhưng rất lâu trước khi mọi người được nghe đến những ý tưởng như tầm nhìn hợp tác, trao quyền cho nhân viên, hay quá trình nâng cao chất lượng, Carnegie đã tiên phong trong những khái niệm cơ bản của quan hệ con người, những khái niệm làm nòng cốt cho những ý tưởng quan trọng.
Carnegie đến New York vào năm 1912, một chàng trai trẻ từ vùng Tây Bắc Missouri đang tìm kiếm việc gì đó để làm trong đời. Ông cuối cùng tìm được việc tại số 125 đường YMCA, làm giáo viên dạy nghệ thuật nói chuyện trước công chúng cho người lớn vào buổi tối.
Carnegie nhiều năm sau đã viết: “Lúc đầu, tôi chỉ đảm nhiệm các khóa dạy về cách nói chuyện trước đám đông – những khóa học được thiết kế cho người lớn, dựa trên thực nghiệm, dạy cách suy nghĩ độc lập, cách phát biểu ý kiến một cách rõ ràng hơn, hiệu quả hơn và tự tin hơn, cả trong các cuộc phỏng vấn lẫn nói chuyện trước đám đông.
Nhưng dần dần sau nhiều khóa học, tôi nhận ra rằng những học viên này rất cần được dạy về nghệ thuật ứng xử trong các quan hệ hàng ngày trong công việc và ngoài xã hội”.
Vì thế Carnegie đã mở rộng khóa học của mình bằng cách thêm vào các kỹ năng cơ bản trong quan hệ con người. Ông không có sách vở, không có chương trình chính thức và cũng không theo một giáo trình cụ thể nào. Nhưng ông đã xây dựng một danh sách ngày càng được mở rộng bao gồm các kỹ năng thực tế trong nghệ thuật ứng xử mà ông luôn ứng dụng và kiểm tra tính hiệu quả hàng ngày.
Ông nói với các học viên của mình: “Nhìn nhận vấn đề theo quan điểm của người khác. Đánh giá cao giá trị của họ một cách chân thành. Tỏ ra thực sự quan tâm với mọi người xung quanh”. Ông chỉ cho họ cách “đan dệt” những quy tắc cơ bản trong quan hệ con người đó vào “tấm vải” cuộc sống.
Lúc đầu, Carnegie chỉ phác thảo những quy tắc của ông trên những tấm thẻ nhỏ cỡ 3-5 inch. Những tấm thẻ này nhanh chóng được thay thế bởi các bản thảo và các cuốn sách nhỏ, cuốn sau dần lớn hơn cuốn trước. Sau mười lăm năm trải nghiệm thực tế và chọn lọc kỹ càng, Carnegie đã tập hợp tất cả các nguyên tắc của ông vào trong một quyển sách. Tác phẩm “Đắc nhân tâm – Bí quyết thành công” (Nguyễn Hiến Lê dịch sang tiếng Việt) của Dale Carnegie xuất bản năm 1936 là một tập hợp những lời hướng dẫn rất đơn giản để ứng xử thành công trong cuộc sống.
Quyển sách đã cực kỳ thành công. Ba mươi triệu bản đã được bán ra sau đó, “Đắc nhân tâm – Bí quyết thành công” trở thành một trong những quyển sách bán chạy nhất trong lịch sử. Nó được dịch sang rất nhiều thứ tiếng và vẫn còn tiếp tục được bán cho đến ngày nay.
Carnegie sau đó lập nên công ty Dale Carnegie & Associates nhằm phổ biến các thông điệp của ông về quan hệ con người và ông đã tìm được độc giả trên khắp thế giới. Ông dần xuất hiện thường xuyên trên truyền thanh lẫn truyền hình. Ông hướng dẫn nhiều người khác để dạy những khóa học của mình và tiếp tục viết thêm hai quyển sách nữa về quan hệ con người: “Cách dễ dàng và nhanh chóng để nói chuyện hiệu quả” và “Quẳng gánh lo đi và vui sống”. Cả hai cũng đều nằm trong số những quyển sách bán chạy nhất. Ngay cả khi Carnegie qua đời vào năm 1955, những tư tưởng của ông vẫn tiếp tục không ngừng lan tỏa.
Hiện tại, các khóa học của Dale Carnegie đã hiện diện tại hàng ngàn thành phố trên khắp nước Mỹ và bảy mươi nước khác trên thế giới với khoảng 3.000 học viên mới tham gia học mỗi tuần. Công ty của Carnegie đã phát triển đến mức nó đã xây dựng chương trình đào tạo cho hơn bốn trăm công ty lớn nhất nước Mỹ (theo bảng xếp hạng của tạp chí Fortune).
Với mỗi thế hệ trôi qua, thông điệp của Carnegie đã cho thấy khả năng lạ thường của nó trong việc tự biến đổi để đáp ứng với nhu cầu của một thế giới luôn thay đổi. Giao tiếp hiệu quả với mọi người, thúc đẩy họ thành công, khám phá khả năng lãnh đạo trong mỗi người – đó là những trọng tâm cơ bản trong lý thuyết của Dale Carnegie. Với những bất ổn trong thế giới ngày nay, những lý thuyết đó của ông như lại hồi sinh. Trong những trang tiếp theo, các nguyên tắc cơ bản trong quan hệ con người của Carnegie được áp dụng vào các thử thách đặc trưng mà con người ngày nay phải đối mặt.
Những nguyên tắc này đều đơn giản và dễ hiểu. Chúng không yêu cầu một trình độ giáo dục đặc biệt hay bất kỳ kỹ năng chuyên môn nào. Những gì đòi hỏi là sự rèn luyện và luôn sẵn sàng học hỏi.
Bạn đã chuẩn bị để đối đầu với những quan điểm lâu đời về thế giới? Bạn đã sẵn sàng xử lý các mối quan hệ một cách dễ dàng và thành công? Bạn có muốn tăng thêm giá trị cho tài sản quý giá nhất của mình: những người trong đời sống cá nhân và trong công việc của bạn? Bạn đã sẵn sàng tìm kiếm và bộc lộ con người lãnh đạo trong chính bản thân?
Hãy tiếp tục đọc nếu câu trả lời là có. Những trang tiếp theo đây có thể thay đổi cuộc đời bạn.
Tối đa: 1500 ký tự
Hiện chưa có bình luận nào, hãy là người đầu tiên bình luận