Ông Võ Thống, cha ông Lân, có tài bơi lội khét tiếng sông Thu ngày ấy. Tối mùng 5, nước vào sân, ông Thống tranh thủ nấu nồi cơm to, kho tô mắm cáy rồi gói ghém đồ đạc đưa vợ là Trần Thị Ba cùng 4 đứa con đi tránh lụt. Cả nhà vào cơ quan thôn Bình Yên. Địa điểm đó bây giờ là một trường học.
Ông Thống giục vợ và các con ăn no bụng. "Có chết cũng phải làm con ma no" - ông Thống nói với các con khi nước tràn vào cơ quan thôn. Ông Lân khi đó mới lên 10 nhưng cảm thấy mệt trong cảnh chạy lụt, nuốt cơm không trôi. Ông Quy thì được hàng xóm cho bịch sữa, uống ngon lành.
Nước dâng đến đâu, người trú trong cơ quan thôn leo lên đến đó. Ban đầu thì kê các bao lúa, bao bắp lên cao. Dần dần leo lên trính, rồi dỡ mái ngói. Trước tình cảnh trên, ông Thống dự cảm chẳng bao lâu nữa, cơ quan thôn sẽ trôi.
Dòng nước chỗ này không chảy xuôi mà xoáy liên tục. Nhân lúc đó, ông Thống dùng sức bơi lội của mình vớ lấy ông Lân. Lúc này, ông Lân bảo cha lo cho mấy đứa em đi. Rồi ông Thống phát hiện ra ông Quy, bế ông lên bè và dặn ngồi yên một chỗ. Ông tiếp tục bơi đi cứu bà Ba.
Trong lúc ba mình cứu mẹ, ông Lân thấy cô em gái tên Phụng chới với giữa dòng nước xoáy. Ông muốn đến cứu nhưng không thể. Khi ấy ông chỉ mới 10 tuổi.
Nước mắt ông trào ra khi kể về chuyện này. Đó là ký ức dù đớn đau nhưng ông không bao giờ cho phép bản thân lãng quên.
Ông lại ước nếu lúc đó ông khoảng 15, 16 tuổi thì có lẽ đã đủ sức bơi để cứu em gái. Không chỉ Phụng, một người em khác của ông là Võ Lực cũng bị cuốn theo dòng nước.
Trở về làng khi nước rút, không còn bóng cây, ngọn cỏ. Nhà cửa trôi sạch. Người làng mót lại những vại bắp, vại lúa ngâm trong nước đã ẩm mốc để nấu ăn qua bữa. Nước uống thì lấy từ vũng nước đọng từ gốc bụi tre đã bị cuốn đi. 10 ngày sau đó, hàng chục xác người bắt đầu trương phình, nổi lên trên vũng nước.
Chẳng thể thay đổi được gì, nước cũng đã uống rồi. Ông Quy ngậm ngùi. Họ đành chấp nhận để vượt qua mọi khó khăn phía trước. Bây giờ hầu như gia đình nào ở làng Bình Yên cũng sắm 1 chiếc ghe nan. Họ treo ghe lên gian chái bên hông nhà. Lụt đến, cả gia đình cùng trèo lên ghe nan bơi vào núi.
Ngồi trong căn nhà cấp 4 xập xệ bên bờ sông Thu Bồn, ông Võ Văn Bát (SN 1961) cho hay đây là mảnh đất mà gia đình ông bám trụ từ trước lụt Giáp Thìn. Ngày đó, mẹ ông - bà Nguyễn Thị Vá - đang mang thai, sắp đến kỳ sinh nở. Tối mùng 5, nước dâng lút làng. Ít người chạy kịp do khi đó làng đang có hàng rào chiến lược.
Bà Vá vác bụng bầu, bồng ông Bát trèo lên ngọn cây bên hông nhà. Cứ như vậy cho đến khi nước rút bớt, 2 mẹ con được người ta bơi ghe tới cứu, thoát chết.
Ba ông là Võ Thông và anh trai Võ Văn Chánh chết.
Sau lụt, bà Vá tìm thấy xác chồng và con trai. Bụng mang dạ chửa, bà không thể đưa ông Thông về để chôn. Không nhờ được trợ giúp của ai vì làng mạc chẳng còn, bà đành dùng ít sức lực còn lại lấp đất lên xác chồng và đánh dấu. Bà cõng xác Chánh về chôn ở quả đồi sau nhà. Nay phần mộ vẫn còn. Xác của chồng bà do chiến tranh, không tìm thấy dấu.
Thuật lại lời kể của mẹ thưở còn thơ, ông Bát cho biết sau lụt là cơ cực vô cùng. Mẹ con ông ở tạm trong chòi che bằng lá chuối. Cỡ 10 ngày sau, bà sinh ra con trai đặt tên là Võ Văn Dũng.
Cứ vậy, cả ba mẹ con bám trụ trên mảnh đất của làng An Toàn, sát bờ sông Thu; sinh sống qua ngày bằng mấy sào ruộng với đám mía quanh nhà. Về sau, những năm 1990, dân làng di dời vào sát núi. Riêng ông vẫn chọn lựa ở lại bờ sông.
Bây giờ, trên rẻo đất của làng An Toàn cũ là những đám mía xanh mướt. Giữa đám mía ấy duy nhất một căn nhà tồn tại, đó là nhà của ông Bát. Mẹ ông mới mất cách đây 3 năm. Mấy cô con gái đã đi lấy chồng. Căn nhà chỉ có ông và vợ là bà Huỳnh Thị Bảy sống.
Ở đây, ông trồng mía bên hông nhà, ra sau lưng chăm ruộng lúa, nuôi mấy con gà ngay trong sân. Cuộc sống bình yên với ông, vậy là đủ.
An Toàn cũng là làng nằm ở hữu ngạn đầu nguồn sông Thu Bồn. Trước đây, nước sông sạch, mát lành. Làng uống nước sông chứ không cần phải đào giếng. Nay thì dọc bờ ôm trọn làng không còn diện tích bãi bồi nữa mà là những bãi lở. Bờ sông sạt lở bởi hàng chục năm, nạn khai thác vàng trái phép diễn ra rầm rộ. Cách chừng 7, 8 năm, khi đã khai thác cạn kiệt, các phu vàng mới rút đi để lại con sông nham nhở. Ông Bát nhìn mà nhói cả lòng.
Khi được hỏi ông có sợ lụt không thì ông bảo không sợ nữa rồi. Hễ nước lên là ông gọi người thân trong làng chèo ghe ra đưa vào. Nước rút lại về dọn dẹp, sinh sống như cũ.
Làng An Toàn bây giờ nằm dựa vào chân núi Lành Anh với hơn 200 hộ và gần 500 nhân khẩu. Con số này mới xấp xỉ dân số của làng vào thời điểm năm 1964. Ông Nguyễn Văn Tàu (SN 1954) cho biết năm đó, ông may mắn được người trong làng đưa đi trú trước khi nước ngập. 59 năm qua, ông chứng kiến làng hồi sinh qua bao nhiêu thăng trầm.
Trước đây, làng không làm giỗ cho người chết lụt. Lý do phần nhiều là hầu hết các nhà đã chết hoàn toàn. Người ở làng hiện tại chủ yếu từ nơi khác đến.
Cách đây khoảng 3, 4 năm, thấy cuộc sống của dân làng khó khăn mà liên tục gặp những điều không may, các bậc cao niên mới họp lại và quyết định bắt đầu làm giỗ tưởng nhớ người làng đã chết trong trận lụt.
Họ chọn ngày mùng 3 tháng 10 Âm lịch để tổ chức cúng chay. Năm nay, giỗ lụt của làng An Toàn có hơn 100 người tham dự.
Ngược dòng sông Thu về làng Thạch Bích, nay thuộc xã Quế Lâm, huyện Nông Sơn, có 114 người chết lụt năm Thìn. Tất cả đều về tránh trú tại hội trường cơ quan thôn, chỗ cao nhất làng. Bây giờ chỗ đó là nhà văn hoá thôn.


Sông Thu Bồn đoạn chảy qua xã Quế Lâm.
Nước đổ về cuốn trôi cả cơ quan thôn, trăm người chới với giữa dòng nước. Bà Nguyễn Thị Thống (SN 1948) không biết bơi. Nhưng bà vớ được cành cây và ôm chặt vào nó.
Nước dìm bà xuống, bà nín thở. Cứ vậy mà bà trôi tới làng Đông An rồi được người ta chèo ghe vớt vào. Lúc này, trên người bà chẳng còn mảnh vải che thân.
Ông Trương Cam (SN 1938) cũng bám víu vào được một cây to từ thượng nguồn. Trời tối, ông nhắm mắt, ôm chặt vào cây. Vậy mà ông trôi đến tận Tĩnh Yên thuộc huyện Đại Lộc bây giờ. Lúc đó, trời hửng sáng.
Ông nhìn thấy trên một bè gỗ có khoảng 4-5 người phụ nữ. Họ nhất mực không chịu cho ghe bơi ra ứng cứu. Lúc sau một trong số họ mới nói vọng vào: Nếu ra cứu chúng tôi thì cho xin vài bộ áo quần. Thời đó, phụ nữ mặc quần dây thun khá rộng. Nước cuốn mạnh quá, áo quần bị tuột cả ra, trên người không còn gì cả. Ông Cam vừa thương vừa buồn cười nhớ lại.



Ông Trương Cam tại Nhà văn hóa thôn Thạch Bích.
Nhà thờ lụt của làng Thạch Bích nằm ngay mép sông Thu Bồn. Nay làng đang tiến hành sửa sang lại. Mỗi năm họ không làm giỗ trong ngày mùng 5 tháng 10 mà chọn ngày mùng 10 tháng 3 Âm lịch làm giỗ chung.
Mùng 5 là ngày các nhà dân trong thôn làm giỗ riêng. Đi khắp làng ngày đó hầu như nhà nào cũng nghi ngút khói hương.














Bình luận (0)