Sông Nhật Lệ bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, đổ ra biển ở địa phận Quảng Bình
Trận đánh đầu tiên của quân Trịnh - Nguyễn ở cửa Nhật Lệ diễn ra vào năm 1627. Khi đó, Chúa Trịnh Tráng dẫn vua Lê đi, mượn cớ xem xét địa phương nhưng cho quân tiến đánh Đàng Trong. Tướng Trịnh là Trịnh Khải đặt dinh trại ở phía Bắc cửa Nhật Lệ.
Chúa Nguyễn Phúc Nguyên liền sai Tôn Thất Vệ làm tiết chế, Nguyễn Hữu Dật làm giám chiến, lĩnh quân bộ ra chống cự; sai con trai thứ tư là Nguyễn Phúc Trung chỉ huy quân thủy tiếp ứng. Đêm ấy, quân Nguyễn bắn đại bác vào dinh trại Trịnh Khải, quân Đàng Ngoài rối loạn.
Cửa biển Nhật Lệ từng được xác định là ranh giới hưu chiến của binh lính Đàng Trong - Đàng Ngoài
Sau đó, Trịnh Tráng đem binh tiến đánh. Quân Nguyễn đánh không lại, phải rút lui rồi cho tượng binh chặn ngang. Hai tướng của Chúa Nguyễn là Nguyễn Hữu Dật và Trương Phúc Da bàn mưu sai nội gián phao tin anh em Trịnh Gia - Trịnh Nhạc ở Đàng Ngoài âm mưu nổi loạn. Trịnh Tráng nghe thế lấy làm nghi ngờ, phải cho rút quân.
Mùa đông năm 1633, Chúa Trịnh Tráng thống lĩnh đại quân thủy bộ, dẫn vua Lê thẳng tới cửa Nhật Lệ. Hay tin, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên sai Đại tướng Nguyễn Mỹ Thắng và Đốc chiến Nguyễn Hữu Dật đem quân chống cự. Trấn thủ Nguyễn Phúc Kiều xin đóng cọc gỗ ở cửa biển để chặn quân địch.
Cửa biển Nhật Lệ ngày nay - Ảnh: Cường Bùi
Trước đó, Nguyễn Phúc Anh - con trai thứ ba của Nguyễn Phúc Nguyên, được phong Trấn thủ Quảng Nam - tính tình phóng túng, chỉ biết ăn chơi lại có dấu hiệu tạo phản nên không được Chúa Nguyễn trọng dụng, sinh ra bất mãn. Phúc Anh viết thư quy thuận Đàng Ngoài và được Chúa Trịnh chấp thuận. Hai bên hẹn nhau "nội ứng ngoại hợp", quân Trịnh sẽ đánh úp quân Nguyễn ở cửa Nhật Lệ, rồi tiến vào Huế bắt sống Chúa Nguyễn.
Thế nhưng, khi quân Trịnh bắn súng làm hiệu lại không thấy quân của Phúc Anh tiếp ứng. Nghi hoặc, Trịnh Tráng phải lui quân chờ đợi. Hơn 1 tuần sau, quân Trịnh ngày càng nản chí nên thiếu phòng bị. Lúc này, đại quân Chúa Nguyễn bất ngờ tiến đánh. Quân Trịnh phải bỏ chạy, phần bị giết, phần giẫm đạp nhau chết đến quá nửa.
Trận đánh tiếp theo diễn ra vào đầu năm 1643. Chúa Trịnh Tráng sai Trịnh Tạc, Trịnh Đệ thống lĩnh đại quân đánh chiếm châu Nam Bố Chính (thuộc Quảng Bình ngày nay). Quân Nguyễn do tướng Bùi Công Thắng chỉ huy cố sức chống cự nhưng bất thành. Sau đó, quân Trịnh chiếm được cửa Nhật Lệ…
Cửa biển Nhật Lệ nhìn từ trên cao
"Trận đánh của mọi trận đánh" giữa 2 nhà Trịnh - Nguyễn ở cửa Nhật Lệ diễn ra vào giữa năm 1672. Lúc ấy, Chúa Trịnh Tạc mang hàng chục vạn quân, dẫn theo vua Lê Gia Tông tiến đánh Đàng Trong. Chúa Nguyễn Phúc Tần liền huy động 20 vạn đại quân sẵn sàng nghênh địch.
Hai bên giao tranh suốt mấy tháng vẫn bất phân thắng bại. Đến cuối năm 1672, Trịnh Tạc nhận thấy đánh mãi không xong, trong khi khí hậu nơi đóng quân ẩm thấp, trời rét buốt, binh lính khó ở lâu thêm nên cùng vua Lê lui quân. Chúa Trịnh sai người ở lại chia binh đóng giữ Bắc Bố Chính, lấy sông Gianh làm giới tuyến. Cửa biển Nhật Lệ cũng được xác định là ranh giới hưu chiến của binh lính Đàng Trong – Đàng Ngoài.
"Võ công bậc nhất"
Đầu năm 1648, thủy binh Đàng Ngoài lại tiến đánh cửa Nhật Lệ. Tướng Hoành Lễ chỉ huy quân Nguyễn trấn giữ tại đây chống cự không nổi, phải cầu viện Trấn thủ Nguyễn Phúc Kiều. Tham tướng Nguyễn Triều Văn được lệnh dẫn quân ứng cứu nhưng không dám tiến đến gần. Quân Trịnh thừa thế ngày càng tiến sâu nhưng gặp phải Trấn thủ Bố Chính là Trương Phúc Phấn cùng con trai kiên trì cố thủ.
Chúa Nguyễn Phúc Lan bèn thân chinh dẫn đại quân ra Bố Chính cứu nguy. Dọc đường không được khỏe, Chúa Nguyễn sai con trai là Nguyễn Phúc Tần thay mình chỉ huy ba quân. Bấy giờ, quân Trịnh chủ quan không phòng bị, bị quân Nguyễn phản công bất ngờ buộc phải tháo chạy. "Đại Nam thực lục" ghi lại: "Từ khi Nam - Bắc chia cõi đến nay, quân hai miền lần lượt khi được khi thua, chưa có trận nào thắng to bằng trận này. Thực là võ công bậc nhất".
Cách trung tâm TP Quy Nhơn khoảng 8 km về hướng Đông Bắc, Thị Nại là đầm nước mặn lớn nhất tỉnh Bình Định với diện tích gần 5.000 ha. Trong lịch sử, cửa biển Thị Nại là khu vực phòng thủ trọng yếu, gắn liền với những trận thủy chiến khốc liệt.
Phía Đông cửa biển Thị Nại là dãy núi Phương Mai, phía Tây có núi Nhạn Châu (Ghềnh Ráng) che chắn. Bởi vậy nên từ xưa, triều đại phong kiến nào cũng xây dựng hệ thống phòng thủ quân sự ở đây để trấn giữ. Đến thời Tây Sơn, thủy quân cũng đặt bản doanh tại cửa biển Thị Nại và núi Tam Tòa.
Cửa biển Thị Nại ngày xưa
Cửa biển Thị Nại từng chứng kiến nhiều trận đánh lớn giữa quân Đại Việt và Chiêm Thành. Song, gần 300 năm kể từ thời vua Lê Thánh Tông đến chúa Nguyễn Phúc Thuần, cửa biển Thị Nại gió yên sóng lặng. Sau đó, cuộc chiến Tây Sơn - Nguyễn Ánh đã biến nơi này thành chiến trường gió tanh mưa máu.
Dù bị nhà Tây Sơn dồn đến đường cùng nhưng Nguyễn Ánh (tức Nguyễn Phúc Ánh) vẫn nhẫn nhịn chờ thời. Được Pháp giúp sức, ông dần khôi phục thế lực. Khi nghe tin vua Quang Trung mất (1792), Nguyễn Ánh rất mừng. Năm 1788, Nguyễn Ánh đánh chiếm được Sài Gòn, sau đó tiến ra Nam Trung Bộ. Năm 1792, ông đưa chiến thuyền ra Quy Nhơn, mở đầu cho các trận đánh lớn giữa 2 nhà.
Mô hình tàu chiến Định Quốc Đại hiệu của quân Tây Sơn, trưng bày tại bảo tàng ở Bình Định
Lúc ấy, cửa biển Thị Nại là nơi thủy quân Tây Sơn đặt đại bản doanh, tập trung gần 2.000 chiến thuyền. Trong đó, nổi bật là 3 tàu chiến Định Quốc Đại hiệu, mỗi chiếc trang bị 60 đại bác. Nhiều khẩu pháo hạng nặng được đặt ở pháo đài trên các núi xung quanh, tạo thành thế phòng thủ vững chắc cho quân Tây Sơn.
Nguyễn Ánh cũng huy động trên dưới 1.000 chiến thuyền đến Thị Nại. Trong đó, 5 tàu chiến kiểu phương Tây hiện đại, mỗi chiếc có 46 đại bác và 18 tàu khác với 20 - 26 khẩu mỗi chiếc. Song, trong những cuộc giao chiến đầu tiên, thủy quân tiên phong của Nguyễn Ánh luôn bị đánh bại.
Đến đầu năm 1801, 1.200 quân Nguyễn Ánh bí mật đổ bộ lên bờ, đánh úp các pháo đài của quân Tây Sơn. Một đội chiến thuyền của Nguyễn Ánh cải trang thành chiến thuyền Tây Sơn tiến sâu vào bên trong bắn phá. Hai cánh đột kích này đã giúp quân Nguyễn Ánh xoay chuyển cục diện trận chiến.
Khẩu đại bác nhà Tây Sơn được trục vớt tại cửa biển Thị Nại
Trước sự bối rối của quân Tây Sơn, quân Nguyễn Ánh được lệnh tổng tấn công. Ba chiếc Định Quốc Đại hiệu bị đánh chìm. Chiến thuyền của quân Nguyễn Ánh tràn vào dùng hỏa công đánh phá. Đêm ấy, cửa biển Thị Nại lửa khói ngút trời.
Trận Thị Nại kết thúc với chiến thắng thuộc về quân Nguyễn Ánh dù cũng phải mất hơn 4.000 binh lính. Phía Tây Sơn thiệt hại rất nặng nề với hơn 20.000 quân, 1.800 chiến thuyền, hơn 600 đại pháo… Toàn bộ chiến thuyền ở Thị Nại – nơi tập trung sức mạnh của thủy binh Tây Sơn - bị tiêu diệt hoàn toàn.
Đầm Thị Nại ngày nay
Thất bại này khiến thủy binh Tây Sơn gần như bị tê liệt. Chiến thuyền của quân Nguyễn Ánh đi lại tự do, khống chế hoàn toàn đường thủy. Sau trận thủy chiến này, quân Nguyễn Ánh đánh chiếm kinh thành Phú Xuân (thuộc Thừa Thiên - Huế ngày nay) và sang năm sau (1802) thì nhà Tây Sơn chính thức sụp đổ.
Dù thất trận nhưng chiến thuyền Tây Sơn thời đó đã khiến các sĩ quan phương Tây thán phục. Sau trận thủy chiến Thị Nại, Chaigneau và Barizy - 2 sĩ quan người Pháp trực tiếp hỗ trợ Nguyễn Ánh - đã thừa nhận "ngoài sức tưởng tượng" khi tàu chiến Tây Sơn trang bị tới 50-60 khẩu đại bác hạng nặng.
Trong hồi ký, Chaigneau cho biết ông từng chỉ huy chiếc tàu chiến kiểu châu Âu lớn nhất của thủy quân Nguyễn Ánh nhưng chỉ có 32 khẩu pháo. Còn Barizy nhận xét số khẩu pháo và binh lính trên các tàu chiến Tây Sơn tương đương với các hạng chiến hạm lớn nhất ở châu Âu đương thời, vượt xa loại tàu mà Pháp, Bồ Đào Nha cung cấp cho Nguyễn Ánh.
Theo "Lịch sử kỹ thuật quân sự (giản yếu)" - NXB Quân đội Nhân dân, ngay sau khi quét sạch quân Thanh khỏi bờ cõi, Hoàng đế Quang Trung bắt tay ngay vào việc phát triển thủy quân. Ông dự định không chỉ đối phó quân Thanh mà còn để "đập tan quân Nguyễn Ánh dễ như đập một cành củi khô, một thanh gỗ mục". Khi tàn quân Nguyễn Ánh bắt đầu xin sự trợ giúp từ người Pháp và Bồ Đào Nha, vua Quang Trung thúc đẩy chế tạo nhanh các tàu chiến để đủ sức đối phó chiến hạm công nghệ phương Tây.











Bình luận (0)